"...trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng..."
Phạm thanh Phương
Từ những năm đầu tiên, khi khối người Việt tỵ nạn CS trên khắp thế giới đã ổn định đời sống, ăn nên làm ra. Đảng và nhà nước CSVN nghĩ rằng, với những xa hoa vật chất nơi xứ người, tất nhiên sẽ làm cho người Việt tỵ nạn CS say mê để quên đi tất cả, trở thành những kẻ vong bản, vô tình, vô nghĩa, vô thủy, vô chung như họ đã từng rêu rao. Tuy nhiên khi nhìn lại thực chất, đảng và nhà nước CSVN mới bừng tỉnh để thấy được chính những hạnh phúc phồn vinh ấy, đã tạo cho người Việt tỵ nạn một sự trăn trở khi nhìn về quê hương và dân tộc đang ngụp lặn trong khốn cùng, đau khổ, nhục nhã dưới bàn tay khát máu, tàn bạo của tập đoàn đốn mạt CSVN. Từ đó, tinh thần quốc gia, yêu tự do, hoà bình và nhân bản được phát triển một cách mạnh mẽ hơn và tinh thần đấu tranh mỗi ngày một dâng cao, cố gắng bương trải tìm mọi cách để có thể chia sẻ những hạnh phúc ấy với quê hương dân tộc, đặc biệt là những điều căn bản tự do, dân chủ và nhân quyền. Điều này đã khiến đảng và nhà nước CSVN trở nên bối rối và lo sợ, và cũng chính vì thế đảng và nhà nước CSVN đã phải thay đổi “tư duy”, không còn chửi bới phỉ báng, mà ngược lại bắt đầu o bế, nịnh bợ và phát động chiến dịch kêu gọi “hòa giải”.
Sau nhiều năm kêu gọi bằng nhiều cách, như thành lập “Hội thân nhân Việt Kiều; Qũy yểm trợ cộng đồng” và sau cùng hệ thống hoá một cách mạch lạc, bịp bợm khôn khéo bằng một nghị quyết rất tha thiết mang số 36 đã được đưa ra vào cuối tháng 3 năm 2003, mà đại đa số cộng đồng hải ngoại ai cũng biết. Mặc dù đã cố gắng dùng mọi thủ đoạn bịp bợm trong nhiều năm, nhưng chiêu bài “hòa giải” này cũng không được “ăn khách”, tưởng chừng như đã bị trôi vào lãng quên lãng.
Đến nay, sau khi phát động “chiến dịch chống Tầu cộng” qua sự kiện Hoàng Sa và Trường Sa (Một chiến dịch chỉ dành cho khối người Việt tỵ nạn), một lần nữa chiêu bài “hoà giải” bịp bợm này lại tái xuất hiện qua một bài viết mang ý “Hoà giải là sống còn của đất nước, là nhu cầu khẩn trương” [1] được ký dưới bút hiêu Nguyễn Tường Long. Theo bài viết, tác giả cố gắng kêu gọi khối người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại nên “khép lại qúa khứ, xóa bỏ hận thù” để bắt tay “hòa giải” với đảng và nhà nước CSVN, tạo sức mạnh cùng nhau “chống ngoại xâm”. Và bài viết này cũng đang tạo ra một làn sóng tranh cãi trong dư luận, nhất là trên các diễn đàn điện tử. Nó tựa như một trái khói mù tung ra, mong đánh lạc hương đấu tranh trong cục diện hiện tại.
Để làm sáng tỏ vấn đề, một lần nữa câu hỏi được đặt ra ở đây là "Hòa giải như thế nào? Ai hòa giải với ai ?" và "Tại sao hoà giải vốn mang một ý nghĩa tốt đẹp đã trở thành một đề tài cấm kỵ, dị ứng ?", đối với đại đa số cộng đồng người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại.... Không cần giải thích dài dòng, có lẽ ai cũng hiểu khi dùng hai chữ hòa giải có nghĩa là thế lực gây lầm lỗi phải tỏ lòng thành bằng hành động với nạn nhân một cách cụ thể, trong những điều kiện thỏa đáng. Nó cũng giống như cuộc hòa giải giữa người da trắng tại Úc với người Thổ dân trước đây vậy. Trong việc hoà giải tại Úc, chính phủ Úc đã bày tỏ tất cả sự hối tiếc những hành động gây phương hại đến người Thổ dân trong quá khứ một cách chân thành, không những bằng lời nói mà bằng cả hành động cụ thể như dành ưu tiên nâng đỡ phát triển đời sống văn hóa, chính trị và tâm linh của họ hoàn toàn trong tự do, dân chủ,v,v... Đây mới là thực tâm trong "Hòa Giải". Ngoài ra có lẽ cũng cần nhấn mạnh thêm một thí dụ khác để làm sáng tở vấn đề hơn, như câu chuyện trong thời đệ nhị thế chiến, Quân Phiệt Nhật đã bắt nhiều thiếu nữ Triều Tiên, xung vào đội "Gái an ủi" (comfort girls) để phục vụ sinh lý cho binh sĩ Thiên Hoàng. Nửa thế kỷ sau, dân Đại Hàn vẫn không thể quên được mối hận nhục nhã này. Cuối cùng, Thủ Tướng Nhật đã phải chính thức lên tiếng xin lỗi và bồi thường cho nạn nhân một cách thỏa đáng. Tuy nhiên, trong bài viết, tác giả Nguyễn Tường Long đã kêu gọi một sự “hoà giải” mang đầy tính nghịch lý, lập lờ khi cho rằng khối người Việt tỵ nạn CS (nạn nhân) phải “hoà giải” với thể lực đã gây ra đau khổ tang thương cho nạn nhân (CSVN). Nói như thế chẳng khác nào kêu gọi những nạn nhân tiếp tục cúi đầu làm tôi mọi, dâng hiến thân xác và của cải cho bọn cướp tiếp tục bóc lột, hành hạ. Như vậy, nhân vật Nguyễn Tường Long là ai, đang làm nhiệm vụ gì trong chiêu bài bịp bợm này?...
Đi ngược dòng lịch sử đất nước, với “Một ngàn năm đô hộ bởi giặc Tầu và một trăm năm nộ lệ bởi giặc Tây”, Hoàng Sa, Bản Giốc, Nam Quan vẫn còn nguyên vẹn. Nhưng chỉ hơn ba mươi năm được gọi là thống nhất, độc lập dưới chế độ đốn mạt, phi nhân của CSVN thì tất cả đã mất. Vậy thử hỏi bọn CSVN là giống gì, mà đần độn, hèn hạ đến nỗi, làm mất cả đất đai của Tổ Tiên. Hơn nữa, đất nước hiện tại cũng đã trở thành một "nhà tù vĩ đại" không cửa sổ. Tất cả những lọc lừa, khủng bố, đàn áp, bóc lột, không chừa một ai, từ những nhà bất đồng chính kiến, những vị lãnh đạo tôn giáo và thậm chí những phụ nữ tay yếu chân mềm, những em bé ngây thơ cũng không thoát khỏi bị đem bán làm nô lệ tình dục dưới mọi hình thức. Ngay cả những nơi ăn, chốn ở, thậm chí đến cả nải chuối buồng cau, con gà, con vịt, là những tư hữu tối thiểu của người dân, nhưng bây giờ tất cả những thứ đó, có thực sự còn là của họ hay không, hay tất cả đã thuộc về Đảng và nhà nước CSVN? Như vậy sự đấu tranh của người dân Việt nói chung và cộng đồng người Việt tỵ nạn nói riêng trong hiện tại, chắc chắn không phải thuần túy phát xuất từ một qúa khứ hận thù, mà nó được kết tinh từ những khốn cùng của đất nước, đau thương của dân tộc trong quá khứ cũng như hiện tại từ hơn nửa thế kỷ qua.
Thực sự mà nói, người dân cả ba miền (Bắc Trung Nam), đã bỏ nước ra đi bằng những con đường khốn khổ, đau thương nhất, không phải thuần túy đi tìm miếng cơm, manh áo cá nhân, hay vì sợ sự trả chế độ CS, hoặc vì sự hận thù của một thời quá khứ như CSVN đã gán ghép, mà tất cả chỉ vì họ quá kinh tởm cái chế độ khát máu, phi nhân, được cai trị bởi một bọn thú đội lốt người. Do đó, nhớ hay quên quá khứ không phải là điểm then chốt của vấn đề, mà chính là cái đốn mạt, dã man, cuồng bạo của guồng máy cai trị CSVN. Người ta thường nói "kẻ nào cột, thì người ấy phải gỡ" . Vì vậy, muốn xóa bỏ hận thù, khép lại quá khứ để “hoà giải”, chắc chắn phải thiêu hủy cái cơ chế đã gây ra hận thù, tạo ra những đau thương cho dân tộc và điếm nhục cho quê hương mới là điểm then chốt.
Trở lại vấn đề, ai hoà giải với ai, thực sự cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại và đồng bào ruột thịt trong nước chưa bao giờ bất hoà, nên không cần thiết phải nhắc đến hai chữ "Hoà giải ", những bương trải đấu tranh của họ không ngoài mục đích đi tìm tự do, hạnh phúc cho toàn dân, không phải để đòi lại những tài sản hay thân xác của từng cá nhân đã bị CSVN cưỡng đoạt. Do đó, nói đến một sự “hoà giải” đúng nghĩa và hợp lý, thì chính CSVN là kẻ gây ra đau thương, hận thù, nhục nhã cho Quê Hương và dân tộc, tất nhiên phải biết ăn năn, hối cải để hoà giải với với toàn dân. CSVN phải thật lòng, đừng mỵ dân thêm nữa, hãy cúi đầu xám hối, chế độ phải thay đổi toàn bộ, phải vất bỏ cái lý thuyết CS không tưởng, đốn mạt phi nhân bản CS vào thùng rác lịch sử như các nước CS Đông Âu đã thực hiện.
Ngoài ra, CSVN phải thể hiện thiện chí bằng một xã hội tự do dân chủ đúng đắn, phóng thích ngay những nhà đấu tranh dân chủ, các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo đang bị quản chế hay giam cầm, phải lắng nghe tất cả những tiếng nói lương tri từ mọi tầng lớp xã hội một cách chân thành bằng tự do thông tin và tự do ngôn luận, trả lại quyền tự quyết của dân tộc mà CSVN đã từng cưỡng chiếm. Nếu thực hiện được như vậy, chắc chắn người dân sẽ không hẹp hòi gì để nhắc lại quá khứ. Họ sẵn sàng khép lại tất cả những hận thù đau khổ, để cùng nhau bắt tay xây dựng lại non sông sau bao nhiêu năm khốn khổ, băng hoại do CSVN gây ra.
Tóm lại, thiết nghĩ có lẽ giờ đây cũng không còn ai có thể ngây ngô, lầm lẫn với chiêu bài “hoà giải” của CSVN nữa, và nếu bất cứ ai đòi hỏi mộ sự hoà giải mà không đi kèm những điều kiện nêu trên, thì đó chỉ là một sự cưỡng từ đoạt lý lừa bịp, nếu không phải là CS chính gốc thì cũng là những “con vẹt” tay sai đang giúp CSVN trong mưu đồ xích hoá cộng đồng người Việt tỵ nạn hầu củng cố cho chế độ phi nhân CSVN thêm vững chắc để tiếp tục buôn dân, bán nước, phá hoại Giang Sơn.
Phạm Thanh Phương (Úc Châu).
Tài Liệu Tham Khảo:
#Nguyễn Tường Long (Đăng ngày 31.07.08), Hòa giải là một nhu cầu có thật, Đàn Chim Việt Online, nguồn http://danchimviet.com/articles/255/1/Hoa-gii-la-mt-nhu-cu-co-tht/TrangPage1.html
Sau sự thành công mỹ mãn của cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Úc Châu qua sự kiện “Biểu Dương Cờ Vàng” trong dịp Đại Hội Giới Trẻ Công Giáo Thế Giới, cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại lại nhận được một bài viết với dung rất mâu thuẫn và như hàm ý một sự đánh đồng lịch sử hầu mong nhập nhằng “khuyến cáo” cộng đồng người Việt tỵ nạn hải ngoại nên có thái độ nên tôn trọng lá cờ máu CSVN và chấp nhận nó như lá cờ Vàng chính nghĩa mà đại đa số người dân đang trân trọng. Sự kiện này cũng tao ra một làn sóng dư luận với nhiều nhận định khác nhau và cũng làm sáng tỏ hơn về nhà “đấu tranh dân chủ” Phương Nam Đỗ Nam Hải hiện nay.
Trong bài viết “Một số suy nghĩ về hai lá cờ Việt Nam” [1] gởi ra từ Saigòn ngày 7-8-2008, Đỗ Nam Hải (ĐNH) đã nhận định rõ chế độ CSVN là một chế độ khát máu phi nhân
“...Không ai khác, chính họ là những kẻ khủng bố, chính họ là lũ giặc nội xâm của dân tộc Việt Nam hôm nay!”.Với một nhận định quá chính xác này đã khiến người đọc tưởng như là những lời tâm huyết của một chàng trai nước Việt rất trong sáng trong ý thức quê hương, đang mang nỗi niền trăn trở với cái đau của dân và cái nhục của nước trong hoàn cảnh hiện tại, và cũng có thể nói đây chính là một ngôi sao sáng trong cuộc chiến cam go lật đổ chế độ phi nhân CSVN, đi tìm tự do, dân chủ và nhân quyền cho dân tộc. Tuy nhiên khi đọc tiếp, có lẽ ít ai tránh khỏi được sự ngỡ ngàng với những nhận định mang tính lập lờ đánh lận, giữa cái thiện và cái ác, giữa bóng tối và ánh sáng, giữa chính đạo và tà đạo của ĐNH. Trong đoạn kế tiếp, ĐNH kêu gọi cộng đồng người Việt tỵ nạn nên tôn trọng lá cờ máu đã gây nên bao nhiêu đau thương tác tóc cho quê hương và dân tộc trong suốt gần một thế kỷ qua với đoạn văn:
“Chúng ta cần hết sức tôn trọng tất cả những ai, dù ở phía bên này hay phía bên kia đã từng đứng dưới lá Cờ Vàng 3 Sọc Đỏ hay lá Cờ Đỏ Sao Vàng, vì lòng tin của họ mà đã dũng cảm chiến đấu và ngã xuống trên lòng đất Mẹ Việt Nam thân yêu”Đọc đoạn văn này, có lẽ ai cũng thấy một sự cưỡng từ đoạt lý để cho rằng bất cứ ai, thế lực, phe nhóm nào, dù tốt hay xấu, nhưng một khi đã “ngã xuống trên lòng đất Mẹ Việt Nam thân yêu”, thì lá cờ của họ đều phải được chấp và tôn trọng. Nếu nói như vậy, thử hỏi những tên thảo khấu cướp của giết người, những tên thực dân, đế quốc giết dân, cướp nước và khi chúng “ngã xuống trên lòng đất Mẹ Việt Nam” thì lá cờ của chúng cũng đều phải được tôn trọng ngang hàng với lá cờ chính nghĩa, nhân bản của dân tộc hay sao? Với lý luận này, đại đa số cho rằng ĐNH đang cố gắng đánh đồng sự kiện lịch sử một cách qúa ấu trĩ, để vô tình bạch hoá cả một sự khuất lấp trong chiếc áo “đấu tranh dân chủ” mà ĐNH đã khoác trên người từ trước đến nay. Điều đáng tiếc là ĐNH đã quên hay cố tình quên rằng chính lá cờ đỏ ấy đã đưa đến cho dân tộc biết bao nhiêu đau thương điếm nhục, đồng thời cũng chính lá cờ đỏ ấy đã thiêu chết một cách dã man biết bao nhiêu sinh linh vô tội qua những vết nhơ của lịch sử như “Cải cách ruộng đất, tết Mậu Thân..v..v” và cũng chính lá cờ đó biết bao nhiêu sinh linh vô tội đã phải ra đi vĩnh viễn trong những trại tập trung hay trên những đoạn đường vượt biên, vượt biển. Ngoài ra, cũng duới lá cờ đỏ đầy máu tanh ấy, thử hỏi những người bộ đội CS có thực sự chiến đấu “dũng cảm cho lý tưởng” như ĐNH nhận định hay không? Nếu có, tại sao CSVN phải xích chân họ vào xe tăng và các ổ đại pháo để họ phải giãy chết trong sợ hãi, tức tưởi trong oan nghiệt...
Một sự nhận định rất so le khi ĐNH cho rằng;
“Bản thân hai lá cờ không phải là nguyên nhân gây nên sự phân hóa dân tộc. Nguyên nhân gây nên sự phân hóa dân tộc chính là những kẻ cầm đầu trong Đảng cộng sản Việt Nam đã và đang cố tình duy trì một cách bất lương cái chế độ độc tài, độc đảng, phản dân tộc và phản dân chủ ở Việt Nam”Trong khi đó đoạn kế tiếp ĐNH lại viết
“Lá Cờ Đỏ Sao Vàng đang là biểu trưng cho một chế độ độc tài, độc đảng, phản dân tộc và phản dân chủ, phản lại các quy luật khách quan và các xu thế tiến bộ của thời đại mới.... Thực chất là bởi súng đạn, nhà tù của bộ máy công an trị khổng lồ và bởi sự lừa bịp một cách trắng trợn dân tộc cùng cộng đồng quốc tế, chứ không phải là cái gì khác”.Như vậy những dòng chữ ngụy biện ĐNH cho rằng lá cờ máu của CSVN “không phải là nguyên nhân gây nên sự phân hóa dân tộc” có mâu thuẫn lắm không? Sự mâu thuẫn này nó đã phát xuất từ đâu? Phải chăng từ những khuất lấp tự chính bản thân của người viết và cũng có thể nói là một hành động “hiếp dâm” chữ nghĩa “hiếp dâm” tư tưởng trong mục đích nào đó rất ư là khuất lấp.
Một điều mẫu thuẫn và khôi hài hơn nữa khi ĐNH đã biết rằng
“Lá Cờ Vàng 3 Sọc Đỏ mỗi khi được đồng bào Việt Nam ta hiện đang sinh sống ở hải ngoại giương cao, chính là biểu trưng cho ý chí và nguyện vọng, cho nỗi khát khao của gần 90 triệu nhân dân Việt Nam ở cả trong và ngoài nước hôm nay. Họ đã và đang dũng cảm, kiên trì đứng lên cùng với đồng bào mình ở trong nước quyết giành lại các quyền tự do dân chủ đã bị Đảng cộng sản Việt Nam qua nhiều thế hệ ngang nhiên tước đoạt của dân tộc trong suốt gần 63 năm qua (2/9/1945 - 7/2008)”. Nhưng tại sao ĐNH lại cố đánh đồng một cách trơ trẽn để “khuyến cáo” cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại phải “tôn trọng và chấp nhận” lá cờ máu CSVN giống như lá cờ Vàng tượng trưng cho chính nghĩa nhân bản. Với những lời văn và bố cục tương phản lẫn nhau một cách “rất thô thiển” trong bài viết của ĐNH, đã khiến người đọc phải nghĩ đến một “thói đời” mang đầy tính khuất lấp với một mục đích không trong sáng trong cục diện đấu tranh hôm nay. Như vậy, Đỗ Nam Hải có thật một “Nhà Đấu Tranh Dân Chủ Dũng Cảm” như giải thưởng của nhóm Hoàng Cơ Định (Việt Tân) đã trao tặng trước đây hay không, có lẽ tự bản thân mỗi người đều đã có câu trả lời.
Nhân tiện đọc bài viết mang tính khuất lấp này của Đỗ Nam Hải, tưởng cũng nên nhắc lại ở đây là Đỗ Nam Hải đã từng sống ở Úc từ năm 1995 đến năm 2003 không biết với lý do gì. Ngay trong những lần trả lời phỏng vấn, Đỗ Nam Hải đã xác định rõ anh không phải là một du hoc sinh hay một nghiên cứu sinh và cũng không đến Úc để làm ăn, buôn bán. Như vậy thời gian 8 năm ở Úc Đỗ Nam Hải để làm gì, có mang một nhiệm vụ đặc biệt gì không, thì mãi cho đến nay cũng chưa ai có được một sự giải đáp chính xác. Hơn nữa, theo một giới chức đại diện Việt Tân tại Úc lúc ấy cũng cho biết, họ đã móc nối và kết nạp Đỗ Nam Hải trong mục đích gây dựng mầm mống dân chủ tại quốc nội khi Đỗ Nam Hải về nước, và cũng từ đó ba chữ Đỗ Nam Hải bắt đầu được nhiều người biết đến với năm chữ “Nhà Đấu Tranh Dân Chủ” và nổi bật như hôm nay. Như vậy Đỗ Nam Hải là ai, đang mang một nhiệm vụ gì có lẽ phải chờ thêm một thời gian nữa mới có thể có một sự trả lời chính xác.
Một “Thói Đời”....
Trí thức mà sao khéo nhập nhằng
Đánh đồng lịch sử có buồn chăng
Cạn đường liêm sỉ đau lòng chữ
Khánh kiệt lương tri xót mảnh bằng
Xót nước, khom lưng, tuồng múa bậy
Thương nhà, uốn lưỡi, khúc ca nhăng
Đớn đau, cám cảnh đời khoa bảng
Lẫn lộn vàng thau qủy hoá tăng
Phạm Thanh Phương (Úc Châu)
[1] Phương Nam - Việt Nam (2008) Một số suy nghĩ về hai lá cờ Việt Nam. Hội Quán Nhà Việt Nam, nguồn
http://thongtin.brinkster.net/diendan/motsosuynghivehailacovietnam.htm
Theo tin chính thức cho biết, CSVN vừa công bố sẽ chi ra một số tiền rất lớn với nhiều triệu Mỹ kim, nhằm thúc đẩy mạnh chương trình kêu gọi nguồn tài năng hải ngoại về giúp nước. Thực ra chương trình này không phải là một điều mới lạ, hay mới được xuất hiện bởi ý thức, giác ngộ “đột xuất” của đảng CSVN trước hoàn cảnh suy thoái mọi mặt của hiện tình đất nước, mà nó đã được “phát động” rêu rao từ nhiều năm qua. Cách đây mấy năm, CSVN cũng đã kêu kọi, chiêu dụ bằng bằng nhiều hình thức, qua nhiều nghị quyết. Tuy nhiên, đến nay vẫn không thấy được một tia sáng nào có thể gọi là khả quan, ngoài một con số rất nhỏ bất tài, vô tướng đã trở về tung hô xuông trong cái cảnh “mười voi không được một bát nước xáo”, rồi cũng phải âm thầm ra đi, hay bỏ cuả chạy lấy thân.
Nhìn lại cục diện trong những năm vừa qua có lẽ ai cũng biết, hết Nghị Quyết 114 , Quỹ Yểm Trợ Cộng Đồng, Hội Thân Nhân Việt Kiều, rồi lại đến Nghị Quyết 36,v,v... Trong những chiến dịch này, CSVN cũng đã chiêu dụ được một số cá nhân, phe nhóm, đảng phái, uốn lưng làm tay sai trong công tác thâm nhập, lũng loạn và khuynh loát trong một số cơ cấu tổ chức, sinh hoạt trong cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại, và cũng có một số “chuyên gia trí thức” đánh trống, khua chiêng về “giúp nước” theo kiểu cò mồi. Còn lại đại đa số những thành phần “chuyên gia trí thức” thực sự có ý thức quê hương thì chưa ai thấy lên tiếng.
Đến nay có lẽ CSVN nhận thấy một chút thành quả từ sự lũng loạn qua một số tổ chức tay sai đã thâm nhập trong cộng đồng người Việt tỵ nạn, từ đó nghĩ rằng đã đến lúc phải nhắc lại, tái “phát động” chương trình này, hy vọng có thể thu gom những thành phần được gọi là “chất xám” tại hải ngoại để mong cứu vãn tình thế và củng cố cho chế độ được vững chắc trước tình trạng suy thoái hiện nay.
Trong chương trình này, Bộ Giáo Dục và Đào Tại CSVN cho biết sẽ cố gắng thu hút khảng 300 ngàn chuyên gia có trình độ đại học hiện đang sinh sống và làm việc tại các nước như Anh, Pháp, Mỹ, Úc, Canada,v,v... Bộ Giáo Dục và Đào Tại CSVN cũng cho trong tất mọi lãnh vực, sự thiếu chuyên gia có thể nói là rất trầm trọng, nhất là trong lãnh vực kỹ thuật.
Tuy nhiên, theo ông Phạm Phụ, giáo sư trường Đại học Quốc gia tại Sàigòn lại cho rằng lãnh vực giáo dục đại học mới là quan trọng, vì hệ thống giáo dục đại học dưới chế độ CSVN quá yếu kém. Hơn nữa ông Phụ cũng cho biết, “nếu muốn những tài năng “chất xám” về làm việc thì ít nhất phải có mức lương đãi ngộ tối thiểu để họ bảo đảm cuộc sống. Ngoài vấn đề lương bổng còn “Phải làm thế nào tạo được một môi trường làm việc hữu hiệu, minh bạch, thì đó mới là điều cơ bản”. Điều quan trọng hơn nữa là dù sao những “chuyên gia” này cũng là người Việt Nam, vì thế ngoài khả năng chuyên môn cao, họ còn thấu hiểu được văn hóa, phong tục tập quán,v,v... Do đó rất dễ dàng hoà nhập trong dòng xã hội và chắc chắn sẽ không có những trở ngại như khi thuê mướn một chuyên gia người ngoại quốc”.
Song song với trương trình này, một chỉ thỉ mang số 19 đã được ban hành vào cuối tháng Sáu 2008, Nguyễn Tấn Dũng cũng có nói “sẽ khen thưởng kịp thời đối với kiều bào có thành tích đóng góp cho đất nước" và "phát huy tiềm năng tri thức và kinh tế" của người Việt hải ngoại. Ngoài ra trong cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 10-7, Bộ Ngoại Giao CSVN cũng cho biết, “sẽ tổ chức một hội nghị của người Việt ở nước ngoài trên toàn thế giới vào năm 2009 để "gắn kết" Việt kiều với nhau và với đất nước”.
Khi nghe những lời đao to búa lớn của Dũng, đại đa số cho rằng đây cũng chỉ là phần lý thuyết xuông. Vấn đề thực tế là phải làm thế nào CSVN có thể thu gom và xử dụng được lực lượng “chất xám” tại hải ngoại mới là một điều thiên nan, vạn nan mà từ nhiều năm qua CSVN đã cố gắng nhưng vẫn chưa thành công.
Nhìn vào thực tế, có lẽ không ai có thể phủ nhận, đối với một người Việt Nam yêu nước, thương dân, khi được đem tài năng ra phục vụ trên quê hương mình có lẽ là một điều hạnh phúc nhất, dù có phải hy sinh ít quyền lợi bản thân, và đương nhiên vấn đề lương bổng sẽ không phải là điểm quan trọng đối với họ. Một vấn đề được đặc biệt quan tâm ở đây là sự hy sinh của họ có đem lại được hạnh phúc thực sự cho người dân hay không, khi một khi chế độ dã man, thối nát CSVN vẫn còn tồn tại. Người ta thường nói “Quốc gia hưng, vong, thất phu hữu trách”, vì thế cái mục tiêu chính yếu của một trí thức chân chính là làm sao tạo được sự tự do, tự tại, ấm no hạnh phúc cho dân tộc để phát triển đất nước. Như vậy, thiết nghĩ chỉ khi nào CSVN biết ý thức, trả lại quyền tự quyết cho toàn dân, để có được một nền tự do dân chủ thực sự, lúc ấy có lẽ không cần ai kêu gọi, chiêu dụ, chắc chắn các chuyên gia trí thức cũng sẽ tự động xin về phục vụ trên quê hương. Ngược lại, một khi đất nước còn đang đau khổ, người dân còn lầm than, đói rách bởi chế độ phi nhân, bạo ngược, thì CSVN có dùng mọi thủ đoạn lừa bịp gì chăng nữa, cũng chỉ làm cái công việc “Dã tràng se cát” mà thôi.
Cũng trong bối cảnh hiện tại, nếu có một số “chuyên gia trí thức” nào đó, chỉ vì cái vị kỷ thấp hèn của bản thân, mà quên đi sự đâu khổ của dân tộc, tan tác của quê hương, cúi mặt về làm việc cho CSVN, thì chắc chắn họ sẽ đòi hỏi một mức lương tương đương công việc họ đang làm tại hải ngoại. Như vậy, thử hỏi CSVN có đủ sức trả lương cho họ hay không? Nói đến một chuyên gia đã tốt nghiệp đại học tại hải ngoại, mức lương tối thiểu phải bắt đầu từ con số 70 ngàn Mỹ Kim một năm. Hơn nữa, với một đất nước lạc hậu về mọi mặt như Việt Nam trong hiện tại, thiết nghĩ dù có “thu hút” được một số “tài năng” chăng nữa cũng vô ích, bởi thị trường Việt Nam không phải là “đất dụng võ”, để có thể thi thố sở học. Ngoài ra với hệ thống luật lệ rừng rú của CSVN trong hiện tại, thì lấy gì bảo đảm được an ninh và ngay cả mạng sống của họ.
Nói về bản chất CSVN có lẽ ai cũng biết, khi cần chắc chắn họ sẽ o bế, lạy lục. Nhưng khi “cá đã căn câu”, chắc chắn thói du côn bóc lột sẽ xuất hiện, thậm chí nhà nước sẽ tặng cho vài “cái nón” gián điệp để được trắng tay, thân tàn ma dại một cách “danh chính, ngôn thuận” như đã từng xẩy ra với Nguyễn Gia Thiều (Pháp) hay Trịnh Vĩnh Bình (Hoà Lan) trước đây.
Cũng trong vấn đề này, có nhiều người cho rằng, chương trình “thu hút tài năng” của CSVN không phải thực sự muốn phát triển đất nước như kêu gọi, mà đây chỉ là một vở tuồng chính trị với nhiều mục đích khác nhau. Nếu chẳng may vì một lý do nào đó, một số trí thức “thiêu thân” bay về lí lô với đảng, tất nhiên đảng sẽ lợi dụng sự kiện, tuyên truyền tạo dựng một tiếng vang trước nhãn quan quốc tế là nhà nước CSVN đã có một chính sách đứng đắn, nhiệt tâm vì quê hương đất nước và đang trong sạch hóa xã hội, “tiến nhanh, tiến mạnh” trên con đường “dân chủ hóa” đất nước. Từ đó, CSVN cho đám đảng phái tay sai gia tăng đánh phá tại hải ngoại, để các thế lực đấu tranh càng ngày càng yếu và đi đến triệt tiêu, bởi lòng người mỗi ngày một chán ngán và mất hẳn niềm tin trong đấu tranh. Ngoài ra, những “trí thức” này sẽ đóng một vai trò không kém quan trọng hậu thuẫn trong lãnh vực bang giao, bởi họ chính là những người mang hai quốc tịch. Đến khi mọi việc đã ổn định đi vào “quỹ đạo” vững trãi, có thể những “trí thức” này sẽ là những nạn nhân thê thảm nhất trong chính sách “vắt chanh bỏ vỏ” sở trường của CSVN như đã xẫy ra rất nhiều trên dòng lịch sử gần nửa thế kỷ qua. Do đó, mong rằng các bậc “chuyên gia trí thức” cũng nên cẩn trọng suy xét, hầu có thể tránh được cái cảnh dở khóc, dở cười “tiền mất tật mang” qua bản chất lừa bịp cố hữu của CSVN.
Giúp nước...
(Trong tình hình suy thoái, trong Tháng Sáu vừa qua, đảng CSVN đã công bố một chương trình với nhiều triệu Mỹ kim, “thu gom chất xám” tại hải ngoại về “giúp nước”)
Đảng réo gọi em về giúp nước
Cõi Sơn Hà nghĩa nặng là đây
Em ơi Sông núi hao gầy
Ghé vai gánh hộ, những ngày gian nan
Tình dân tộc Đảng “ban” sắc thắm
Nghĩa đồng bào Đảng cẩn hoàng kim
Dẫu xa cách mấy cũng tìm
“Khúc ruột ngàn dặm” Đảng in tấc lòng
Bao nghị quyết lòng vòng quanh quẩn
Cũng bởi em lắm bạc nhiều tiền
Cây cầu “bản sắc” giao duyên
Em về nối nhịp, “ưu tiên” mặn nồng
Đảng khắc khoải một lòng ngóng đợi
Em về đi, :cứu đói giảm nghèo”
Môi sinh, Giáo dục tiếp theo
Bao giờ cho hết cái nghèo mới thôi...
Ai nghe dại những lời đường mật
Để vô tình bóp nát lương tâm
Bao nhiêu tuyến lệ âm thầm
Do bầy lang sói, nỡ lầm hay sao
Cảnh khốn khổ khi nào mới dứt
Dẫu biết rằng “tay đứt lòng đau”
Dân còn khắc khoải bể dâu
Đảng còn nặng túi, nát nhầu Quê Hương
Yêu dân tộc tìm đường tranh đấu
Diệt hết phường thảo khấu lưu manh
Tự nhiên non nước trong lành
Toàn dân hết khổ, yên bình tứ phương.
Phạm Thanh Phương (Úc Châu)
Đại Hội Giới Trẻ Công Giáo Thế Giới đã kết thúc một cách hoàn mỹ, kể cả phần đạo lẫn phần đời trong tinh thần hiệp thông đúng nghĩa. Tuy vậy, những dư âm hoàn mỹ ấy vẫn còn đọng lại trong tâm tư mọi người những cảm giác thân thương rất đậm nét, và cũng từ đó có lẽ không ai có thể quên được lời phát biểu của hùng hồn mang đầy tính nhân bản của Đức Thánh Cha Benedict XVI trong buổi lễ bế mạc 20-7-2008. Lời phát biểu của ngài đã như một tiếng chuông cảnh tỉnh những con người vì vô tình hay cố ý đam mê trong quyền lực, vật chất mà “xa rời về mặt tinh thần", để có những tư tưởng, lời nói hay hành động, mang tính đồng loã hay thỏa hiệp với những ác tính, để tự chính bản thân và xã hội phải gánh chịu nhiều nỗi đắng cay.
Trong câu nói “xa rời về mặt tinh thần” của Đức Thánh Cha, hiển nhiên mang ý nghĩa một thông điệp, nhắn gởi nhân loại nên vận dụng trí tuệ suy nghĩ về những điều nhân bản một cách sáng suốt, trang bị cho mình một hành trang đối kháng mạnh mẽ, hầu có thể hiên ngang chống lại những ác tính trong một thế giới bon chen của thế nhân hiện tại, điển hình là những con người đầu cơ thời cuộc, những chế độ độc tài toàn trị đầy ác tính, trong đó CSVN là một thế lực đứng đầu trong cái ác tính này. Ngoài ra, ngài cũng nhắn nhủ tha nhân là “chúng ta đang cần một thời đại mới, không còn bóng dáng của sự ích kỷ, tham lam và lãnh đạm với thời cuộc”. Với câu nói này đại đa số nhân định, nếu muốn tẩy trừ những “sự ích kỷ, tham lam và lãnh đạm với thời cuộc” tất nhiên phải có ý thức đấu tranh, đấu tranh ngay chính tự bản thân, gia đình và xã hội. Như vậy cái tính đối kháng mà Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã đưa ra trong “Bức thư mục vụ” chắc chắn phải mang một ý nghĩa cao cả, tốt đẹp. Nó không thể cưỡng từ đoạt lý một cách cẩu thả, bao hàm sự miệt thị, phỉ báng bằng hai chữ “thói đời”.
Thực sự mà nói, có lẽ ai cũng biết cuộc đời là một đấu trường, mang tính đối kháng trường kỳ trong mọi mặt. Bởi lẽ, nếu không có sự đối kháng tự ngay chính bản thân, gia đình và xã hội, thì thử hỏi lấy cái gì có thể tiêu trừ những vị kỷ thấp hèn mang đầy ác tính của nhân gian, hầu có thể đem lại đời sống an vui, hạnh phúc cho nhân loại kể cả vật chất lẫn tinh thần. Ngược lại, nếu chỉ lập lờ, đánh lận hiểu cái theo cái “thói đời” của HY Phạm Minh Mẫn để tìm sự “an toàn, hạnh phúc” cá nhân thong thoả hiệp với những kẻ mang đầy ác tính, thì có lẽ Đức Thánh Cha không bao giờ phải bận tâm nhắn gởi đến tha nhân những điều này. Tinh thần đối kháng nhằm tiêu diệt những “sự ích kỷ, tham lam và lãnh đạm với thời cuộc” là một điều rất cần thiết trong cuộc đời, nhất là đối với hoàn cảnh của dân Việt Nam hiện nay. Nếu không, làm sao có thể quang phục quê hương, phục hồi đạo đức, và thăng hoa cuộc sống.
Cũng với những câu nói của Đức Thánh Cha, thiết nghĩ đây cũng là một thông điệp nhắn gởi riêng giáo dân và nhất là hàng giáo phẩm Việt Nam cũng đừng vì “sự ích kỷ, tham lam” mưu cầu sự an bình, lợi ích cho bản thân, phe nhóm, để phải bưng tai nhắm mắt “lãnh đạm với thời cuộc” nhiễu nhương đang xẩy ra trên khắp nẻo đường đất nước. Như vậy có thể hiểu sự hiệp thông ở đây là sự hiệp thông của những con người ý thức với thời cuộc để đối kháng lại những “sự ích kỷ, tham lam” bạo ngược của CSVN. Nó không thể là một sự đánh đồng lịch sử để cưỡng từ, đoạt lý cho rằng dù mẹ Việt Nam “mặc áo đỏ” hay “mặc áo vàng” cũng như nhau, hầu nhập nhằng cưỡng bách trộn chung cái ác và cái thiện.
Cũng trong ngày lễ bế mạc Đại hội, Đức Thánh Cha đã cảnh giác, nhắn nhủ: "Thế giới của chúng ta ngày càng chia rẽ, bóc lột và hám lợi, với những thần tượng sai lệch, những sự phản kháng rời rạc cùng nỗi đau từ những lời hứa giả tạo". Đây cũng là một lời nhắn gởi, khuyên chúng ta phải can đảm chấp nhân sự thật, bạch hóa những sai trái lập lờ, đoàn kết trong cái thiện (chính nghĩa), đối kháng để tẩy trừ tất cả những “thói đời” lấp lửng “mượn gió bẻ măng” trong âm mưu thỏa hiệp, tiếp tay cho sự bóc lột đầy máu và nước mắt của CSVN đã và đang gieo rắc trên khắp nẻo đường quê hương hơn nửa thế kỷ qua. Do đó, người Công Giáo Việt Nam và hàng giáo phẩm cũng đừng bao giờ để hiện tượng “những sự phản kháng rời rạc” như hoàn cảnh của Linh Mục Lý phải tiếp diễn, mà hãy xiết tay nhau trong niềm tin, tạo sự hiệp thông cùng đứng lên đối kháng tẩy rửa “nỗi đau từ những lời hứa giả tạo” từ những con buôn chính trị và CSVN. Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây, Đức Giáo Hoàng Jean Paul II khi sinh tiền, ngài đã từng nhắn nhủ: “Mỗi người công giáo là một chiến sỹ của giáo hội” trên con đường đấu tranh với cái ác để tìm ánh sáng hạnh phúc toàn thiện cho nhân loại, như vậy chắc chắn người Công giáo không thể là những con cừu thụ động chỉ biết núp dưới đàn chiên tìm sữa uống cho no bụng, mà “lãnh đạm với thời cuộc”, bỏ mặc dân tộc đang ngụp lặn trong vũng lầy đen tối của thế gian do CSVN tạo ra.
Trở về “nỗi đau từ những lời hứa giả tạo”, đi ngược dòng lịch sử để thấy được CSVN không bao giờ có một thiện chí làm đúng những gì đã hứa, những lời hứa giúp đỡ thành phần bần nông trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, sự cam kết hưu chiến ba ngày tết trong Tết Mậu Thân và còn rất nhiều lời hứa khác, nhưng chẳng bao giờ được CSVN thực hiện. Ngay trên cả lãnh vực quốc tế cũng không có gì khác biệt, tất cả những cam kết của Hiệp định Genève 1954 hay Hiệp định Paris 1973 và rất nhiều cam kết trong công ước Quốc Tế Nhân Quyền, cũng chỉ là những lọc lừa bỉ ổi, để rồi đã hơn nửa thế kỷ qua dân tộc Việt Nam phải quằn quại trong những “nỗi đau từ những lời hứa giả tạo” ấy và tác hại của nó vẫn còn tiếp diễn.
Tóm lại, lời nói của Đức Thánh Cha trong ngày lễ bế mạc Đại Hội Giới Trẻ Công Giáo tại Sydney, có thể nói là một thông điệp nhắn gởi riêng đến giáo dân và đặc biệt hàng giáo phẩm trong hệ thống Thiên Chúa Giáo Việt Nam rằng: Hãy cố gắng đề cao cảnh giác, đừng bao giờ chỉ vì một sự thoải mái, an toàn giả tạo cho bản thân, cho phe nhóm, để rồi phải khép kín lương tri “cuốn theo chiều gió”, hay mù quáng trong nhận định sự thật chỉ vì tôn sùng những “thần tượng” một cách “sai lệch” như một số người đã cố gắng ngụy biện cho hành xử của Hồng Y Ph ạm Minh Mẫn vừa qua, để rồi nỗi đau của dân tộc tiếp tục mãi lê thê dưới ách thống trị của thế lực đầy ác tính CSVN.
Tuổi Trẻ Lưu Vong!!!
(Thân tặng những bạn trẻ Việt Nam trong Đại Hội Thanh Niên Công Giáo Thế Giới 2008 tại Sydney với ngọn cờ Vàng Nhân Bản)
Thương biết mấy
Những tâm hồn son trẻ
Những cánh hồng e ấp tuổi ngây thơ
Bởi vì đâu ! vọng cố quốc xa mờ
Yêu đất tổ trải lòng phơi gió bụi
Ánh sáng đức tin
Vương nỗi hờn sông núi
Thương giống nòi, giá lạnh buổi chiều đông
Tay trong tay, trực diện với non sông
Đường khấp khểnh, miệt mài thiên lý cước
Những mái đầu xanh
Chung lòng nguyện ước
Chí tung hoành, nốùi gót bậc cha, anh
Xây vẻ vang giòng giống Việt hùng anh
Không khuất phục trước vuốt nanh Cộng Phỉ
Tuổi trẻ hôm nay
Tràn đầy nghĩa khí
Trang sử oai hùng, mãi chói rạng nghìn thu
Quyết đánh tan mầu đen tối, âm u
Đem dân chủ, tự do, tràn sông núi
Rách rưới, Giang sơn
Đức tin, tù tội
Không ngập chìm hoa gấm để thờ ơ
Sức mạnh hoa niên, như nước vỡ bờ
Cuốn trôi hết bọn sói lang Cộng Sản
Dẫu lớn lên
Trong đoạn đời Tỵ Nạn
Mượn nhà người, làm tổ ấm dung thân
Có gì vui, khi Tổ quốc trầm luân
Cố gắng học, thành nhân tài giúp nước
Dõi theo bước
Gương anh hùng thủa trước
Nặng thù nhà, nợ nước, quyết vùng lên
Thay mộng mơ bằng ý chí vững bền
Dòng máu thắm, Việt Nam ơi! bất diệt
Phạm Thanh Phương (Úc Châu)
Trong suốt cả tháng qua, chờ đợi trong trăn trở, lo lắng, hồi hộp và cuối cùng buổi lễ khai mạc Đại Hội Thanh Niên Thế Giới đã diễn ra một cách tưng bừng, long trọng, với con số trên dưới 140 ngàn người tham dự vào sáng 15-7-2008 tại Sydney vừa qua. Trong không khí tưng bừng hiệp thông ấy, có đủ mầu sắc quốc kỳ của các quốc gia tham dự, đến từ khắp thế giới, nhưng một điều đáng ghi nhận là tuyệt nhiên không thấy bóng dáng lá cờ đỏ sặc mùi máu tanh của CSVN xuất hiện. Ngược lại, một rừng cờ Vàng đã được các bạn trẻ Việt Nam dương cao, phất phới trong gió như đón mừng một sự hiệp thông giữa người và người, giữa người và đấng Cứu Thế toàn năng.
Nhìn vào buổi lễ khai mạc, những nét hân hoan, nhân bản đã hiện rõ trên khuôn mặt những người trẻ Việt Nam từ khắp nơi đổ về với lá cờ Vàng trên tay, đã chứng tỏ được không có tí gì có thể gọi là một “thói đời mang tính đối kháng” như sự suy nghĩ của Hy Mẫn, mà ngược lại sự hiện diện của lá cờ Vàng đã làm cho buổi lễ thêm tưng bừng khởi sắc, vì chính lá cờ Vàng tượng trưng cho một tình yêu nhân bản và chính nghĩa, đối nghịch lại cái ”thói đời” mang tính sắt máu, khủng bố của lá cờ đỏ đầy máu tanh mà “Ngài” Hồng Y “khả kính” của chúng ta đang cố gắng tô điểm, để mong rằng nhập nhằng mang hai chữ “hiệp thông” đồng hóa với âm mưu “hoà hợp” sự thánh thiện, chính nghĩa với khủng bố, máu tanh của loài qủy đỏ CSVN.
Cũng trong sự việc này một điều quan trọng đã được tiết lộ, trước khi phái đoàn Công Giáo lên đường tham dự Đại Hội, “Mặt Trận Tổ Quốc CSVN” đã chỉ thị cho cán bộ trà trộn và yêu cầu phái đoàn mang theo cờ đỏ để phô trương cái bản chất sắt máu dã man của họ. Nhưng theo ý của những Giám Mục hướng dẫn phái đoàn, các ngài không muốn thực hiện điều nay, các ngài e rằng sự hiện diện lá cờ đỏ trong đại hội mới chính là vật làm ”tắc nghẽn sự hiệp thông”. Có lẽ vì sợ sự hiện diện lá cờ Vàng sẽ phát huy chính nghĩa, và làm nổi bật nét tàn ác, dã man của CSVN, nên HY Mẫn đã phải xuyên tạc và vu khống “Sự hiện diện của lá cờ Vàng làm tắc nghẽn sự hiệp thông giới trẻ với nhau và với Thiên Chúa” như ông đã viết trong lá “thư mục vụ” trong Tháng Sáu vừa qua. Sự kiện này cũng không ngoài ý đồ để lá cờ đỏ khát máu CSVN được độc vị đại diện các bạn trẻ Việt Nam trong Đại hội, dù chỉ một vài lá lẻ tẻ, để Toà đại sứ cho người quay phim đem về nước trình chiếu, tuyên truyền bịp bợm là đảng đã “hiệp thông” cùng giáo dân tỵ nạn tại hải ngoại, và người Việt tỵ nạn hải ngoại rất hân hoan tôn vinh mẹ Việt Nam trong mầu “áo đỏ” mà CSVN đã cưỡng chế khoác lên. Vì thế, chẳng có gì phải ngạc nhiên thấy HY Mẫn phải cố gắng gán ghép, miệt thị lá cờ Vàng là một “thói đời mang tính đối kháng” hầu có thể tô đậm nét thêm cho ý đồ. Tuy vậy, sự miệt thị, chà đạp này đã không mang lại kết qủa như HY Mẫn mong muốn, ngược lại chính những lời của “ngài” đã tạo ra một phản ứng ngược, và cũng đã chứng tỏ được một cách rõ ràng sự miệt thị, chà đạp ấy chỉ là một “thói đời” mang tính lưu manh xấc xược, bản chất của CSVN mà thôi.
Từ sự phản ứng ngược một rừng cờ V à ng trong ngày lễ khai mạc Đại Hội, CSVN đã tức tối lồng lộn, khiếu nại cùng chính phủ Úc và Ban Tổ Chức của Đại Hội. Đồng thời Toà Đại sứ CSVN cũng tức tốc đã ra chỉ thị cho tất cả du sinh hiện diện trên đất Úc phải mang theo là cờ máu để phất lên trong ngày bế mạc Đại Hội 20-7-2008, tất cả những phương tiện di chuyển và những lá cờ máu ấy sẽ do Toà đại sứ CSVN cung cấp. Đây mới chính là “thói đời” phá hoại ý nghĩa sự hiệp thông của Đại Hội, do đó chắc chắn cờ đỏ sẽ xuất hiện trong Đại Hội vào ngày bế mạc. Tuy vậy, trong hoàn cảnh đặc biệt mang tính cách quốc tế của Đại Hội và trong chính nghĩa tôn trọng tự do dân chủ, không ai có quyền ngăn cản bất cứ một lá cờ nào. Vì thế muốn biểu dương chính nghĩa trong “trận chiến” này, chỉ còn mong ở Ban Tổ Chức Đại Hội và cộng đồng Công Giáo Việt Nam tại Úc đề cao cảnh giác, cố gắng khuyến khích và vận động các em đưa thật nhiều cờ Vàng, hầu làm sáng tỏ chính nghĩa của người Việt Nam tỵ nạn CS trong tất cả những sinh hoạt của Đại Hội và đặc biệt nhất là trong ngày bế mạc 20-7-2008.
Xoay quanh hai chữ “thói đời”, trong “lá thư mục vụ” của Hy Mẫn, chính ông đã cưỡng từ đoạt lý để cho rằng “Mẹ Việt Nam mặc áo đỏ (cờ đỏ)” cũng thương yêu và dạy con cái nên người, trong khi đó ai cũng biết CSVN đã cưỡng bách, khủng bố dân tộc bằng lá cờ sặc mùi máu tanh ấy, và từ khi Mẹ Việt Nam bị cưỡng bách khoác lên chiếc “áo đỏ” CS thì hình hài của mẹ trở nên gầy guộc tang thương, bị cắt xén lở loang, con cái của mẹ đã phải ngụp lặn trong vũng lầy đói rách, băng hoại cả về đời sống vẫt chất và đạo đức. Như vậy, sự cưỡng từ đoạt lý này chính là một “thói đời” mang tính gian dối của những kẻ đã khánh kiệt lương tri, không thể có nơi một vị chức sắc cao cấp trong hàng giáo phẩm Thiên Chúa Giáo. Ngoài ra, Hồng Y Mẫn đã mệnh danh cộng đồng người Việt tỵ nạn hải ngoại là loại “tha phương cầu thực”, nói nôm na là những kẻ ăn xin, trong khi đó thì “ngài” lại muối mặt ăn xin lại những kẻ ăn xin và cũng đã được khá nhiều tiền. Như vậy đây lại là một “thói đời” mang tính bội nghĩa vong ân.
Trở về sinh hoạt của giới trẻ trong đại hội, ngoài giờ sinh hoạt theo chương trình quy định, trên đường phố Sydney nơi có đông người Việt cư ngụ, đã xuất hiện rất nhiều những khuôn mặt trẻ hân hoan, vai đeo balô mầu Vàng sọc đỏ với phù hiệu Đại Hội và trên tay luôn mang theo cờ Vàng, tung tăng nói cười hớn hở từng nhóm trên đường phố, không ai có thể tìm thấy một nét hận thù, đối kháng nào trên những khuôn mặt trẻ ấy như cái “thói đời” của Hy Mẫn đưa ra.
Đi vào trong vòng đại hội, một buổi sinh hoạt trong buổi sáng ngày thứ hai của Đại Hội (16-7-2008), các em trẻ Việt Nam cũng đã thực hiện một chương trình văn nghệ bỏ túi rất đạc sắc, trong đó có một hoạt cảnh vuợt biên với một chiếc ghe xiêu vẹo, có cắm lá cờ Vàng, tượng trưng cho những gian truân, đau khổ của người tỵ nạn CS, và kèm theo nhiều bài hát nêu cao tình tự quê hương và bản sắc dân tộc. Với những hình ảnh, các em đã ngầm nhắc nhở cho mình lý do tại sao có những người Việt tỵ nạn đang sống rải rác trên khắp thế giới, và tạo được sự giao cảm bằng tình tự dân tộc phi biên giới. Và nơi ấy vẫn không ai có thể tìm thấy cái gọi là “thói đời” đối kháng hay hận thù của cả hai bên trong và ngoài nước, mà chỉ thấy một sự chia sẻ trong ngậm ngùi với nỗi đau của mẹ Việt Nam.
Trở lại hiện tượng HY Mẫn theo nhiều nguồn tin cho biết, hiện nay HY Mẫn đã đến Úc một cách ấm thầm và đang ở tại Adelaid, cách Sydney chừng 1300 cây số, nhưng chỉ để thăm viếng thân nhân, chứ không tham dự đại hội. Tuy nhiên, trước sự kiện đến Úc một cách âm thầm này của HY Mẫn nhiều người cho rằng, HY Mẫn đến Úc không phải chỉ để thăm thân nhân, mà mục đích chính có thể mang nhiệm vụ “quan sát tầm xa”, hay còn có một đặc vụ ngầm nào đó. Vì vậy nhiều người đã định nghĩa sự kiện đến Úc ầm thầm này của HY Mẫn là một “thói đời” mang tính khuất lấp nơi những kẻ gian tà, sợ ánh sáng chính nghĩa của thế nhân.
Tóm lại, hai chữ “thói đời” trong văn chương Việt Nam không bao giờ bao hàm một ý nghĩa tốt, ngược lại nó chỉ được dùng diễn tả những gì được gọi “thói hư, tật xấu” trong xã hội, những gì đi ngược lại luân lý và đạo đức xủa dân tộc. Như vậy những tư tưởng và việc làm của HY Mẫn vừa qua cũng đã thể hiện được một số “thói đời” đúng nghĩa của nó một cách thật chính xác, và dù vô tình hay cố ý cũng đã thể hiện được những nét đặc thù của CSVN. Vì thế nhiều người cho rằng, qua những “thói đời” nêu trên có thể gom lại một “thói đời” đặc biệt mang hai ý nghĩa, đó là “thói đời” mang tính bị CS “thuần hoá” và “thói đời” mang ý đồ đi “thuần hoá” kẻ khác thì cũng chẳng có gì oan ức.
Phạm Thanh Phương (Úc Châu)
Hồng Y Phạm minh Mẫn, 2008, Lá Thư Hiệp Thông ( Bản Văn Về ‘Cờ Vàng’ ), http://thongtin.brinkster.net/thoisu/duchongymanguibanvanvecovang.htm
Thụy Ái, Jun 15, 2008, Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn – Mẹ Việt Nam, Áo Vàng áo Đỏ!, Tâm Thức Việt Nam
Cờ Tổ Quốc
(Tâm tình một người lính cũ, thân tặng các bạn trẻ tham dự Đại Hội Thanh Niên Công Giáo
Thế Giới tại Sydney 2008 và riêng tặng cộng đồng công giáo Úc Châu trong chiến dịch biểu dương cờ Vàng trong Đại Hội)
Mai tôi chết không có cờ tổ quốc
Phủ áo quan cũng chẳng tiếc than gì
Vì lúc sống cờ đã nằm tim mạch
Quyện linh hồn phất phới buổi ra đi
Niềm hãnh diện có từ trong bụng mẹ
Theo những ngày gian khổ chiến chinh xưa
Bao xương máu linh hồn trai thế hệ
Đường quân hành yêu sáng nắng chiều mưa
Một miếng vải đủ hồn thiêng sông núi
Mầu vàng tươi da thịt của giống nòi
Ba sọc đỏ là ba miền đất nước
Bắc, Nam, Trung kiêu hãnh Việt Nam ơi
Vì vận nước như đàn chim vỡ tổ
Cờ cúi đầu nức nở tiếng than ôi
Ta ôm ấp cờ trên ngàn sóng biển
Để hôm nay ngạo nghễ phất cao trời
Dẫu có chết nhưng cờ không thể mất
Sống trên đời không chỉ vị miếng cơm
Còn danh dự còn hồn thiêng tổ quốc
Đừng để sau con cháu vướng tủi hờn.
Phạm Thanh Phương (Úc Châu)
Theo dõi sự kiện bức thư Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn trong những ngày qua với một không khí ngột ngạt, căng thẳng dường như đang bao trùm lên tất cả các sinh hoạt trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại, và nặng nề nhất vẫn là khối Thiên Chúa Giáo Việt Nam tỵ nạn CS trên khắp thế giới. Nỗi sợ hãi, trăn trở, lo lắng như đang chờ một trái “bom nổ chậm” sẽ bùng lên bất cứ lúc nào và hậu qủa cũng khó có thể đo lường ra sao. Sự ngột ngạt, căng thẳng, lo sợ ấy được xuất phát từ Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn, một vị lãnh đạo tối cao Thiên Chúa Giáo Việt Nam khi ông công khai tuyên bố “sự hiện diện lá cờ Vàng trong đại hội chính là vật cản trở con đường hiệp thông của tuổi trẻ VN với nhau và với Thiên Chúa...”.
Theo đoạn văn trên đa số thắc mắc, không hiểu HY Mẫn đã nghĩ gì hay nhận lệnh từ đâu mà lại có thể viết ra những lời nghịch lý, quái đản như thế, nó tựa như một bát nước sôi hắt vào mặt những người Việt Nam chân chính đang nỗ lực đấu tranh tìm tự do, dân chủ và nhân quyền cho quê hương Việt Nam, trong đó cỏ cả mấy triệu tín đồ Thiên Chúa Giáo của ông. Cũng từ câu văn này, nhiều người cho rằng HY Mẫn đang thi hành chỉ thị từ Vatican, bởi sự nỗ lực thiết lập bang giao với CSVN. Do đó trong cái thế “bánh Ít đi, bánh Qui lại” cũng không có gì phải ngạc nhiên.
Tuy vậy, một số khác lại cho rằng Vatican là một trung tâm đầy quyền lực, trong khi ai cũng biết CSVN không phải là một đối tượng tối quan trọng, để Vatican phải hạ mình vuốt ve một cách quá đáng và trơ trẽn như thế. Hơn nữa Đức Thánh Cha là một người uyên bác và đạo đức, chắc chắn ngài phải hiểu rõ thế nào là CS, và tầm mức quan trọng của lá cờ Vàng ba sọc đỏ như thế nào đối với đại đa số người Việt tỵ nạn CS đang lang thang trên khắp thế giới, trong đó cũng có những con chiên của ngài. Như vậy, chắc chắn không thể nào câu văn xuẩn động kia là do lệnh từ Vatican. Vì thế dư luận nhận định, điều này chắc chắn xuất phát từ phía CSVN. Chỉ có CSVN mới có cái lối hèn hạ cưỡng từ đoạt lý, chơi trò bỉ ổi tạo phân hoá, gây hận thù giữa lòng dân tộc để đóng vai trò “Bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”.
Cũng từ câu văn quái đản của HY Mẫn đại đa số nhận định, có lẽ HY Mẫn đang đóng vai trò một con rối của CS, lợi dụng tước vị Hồng Y của tôn giáo để thực hiện chính sách “xóa bỏ cờ Vàng”, mong phá vỡ niền tin chính nghĩa của người Việt tỵ nạn tại hải ngoại nói chung và trong tín đồ Thiên Chúa giáo nói riêng, hầu có thể “xích hóa” cộng đồng người Việt tỵ nạn trở thành thần dân của chế độ phi nhân CSVN, củng cố thêm quyền lực, để tiếp tục thong dong trong “sự nghiệp vĩ đại” buôn dân bán nước.
Một vấn đề được đặt ra ở đây, Thiên Chúa là một đấng tối cao, là một vị cha chung, từng chịu chết để mong đem tình yêu đến cho nhân loại, ngài đâu phải là một con người bình thường, với những vị kỷ nhỏ nhen, thấp hèn để cho rằng sự hiện diện lá cờ Vàng trong đại hội chính là “vật cản trở con đường hiệp thông” của tuổi trẻ VN với ngài như bức thư HY Mẫn đã viết. Do đó chỉ còn một nhân định duy nhất khả tín là, chính HY Mẫn đang “chịu áp lực” từ CSVN, nên ông phải cố gắng lươn lẹo, chính trị hoá Tôn giáo, vu khống, bôi nhọ cả Thiên Chúa một cách rất tàn nhẫn và bỉ ổi chưa từng thấy trong hàng giáo phẩm, dù ở bất cứ nơi đâu trên thế giới. Như vậy thử hỏi HY Mẫn có còn đủ nhân cách và đạo đức, để xứng đáng với tước vị Hồng Y và sự kính trọng, tôn sùng của tín đồ nữa hay không? Chúng ta nên xét lại.
Xuyên suốt dòng lịch sử thế giới, có lẽ ai cũng có thể thấy được một chân lý bất khả di là cho dù bất cứ ai, từ những bậc trí giả, đạo đức chân tu đến bình dân bá tánh, nhưng một khi đã ăn bả CS hoặc bị CS “thuần hoá” đều phải bức tử lương tri, đạo đức, và trở thành những kẻ xuẩn động vô tình, vô nghĩa, vô thủy, vô chung như nhau, có chăng chỉ khác nhau là mức độ tác hại của những sự việc họ làm, và HY Mẫn cũng không ngoại lệ.
Trở về điểm chính của sự kiện, trong mấy ngày gần đây khi nhận thấy không còn bất cứ một lý do nào biện minh cho những lời văn đầy phản nghịch của HY Mẫn, CSVN và đám tay sai lại tung ra một luận điệu tuyên truyền rất ư là khôi hài, ấu trĩ, rồi cho một số cò mồi tung hô rối rít và coi như là một chân lý. Lý luận cho rằng, “Tước Hồng Y là do Đức Thánh Cha phong tặng xuyên qua sự soi sáng của Chúa Thánh Thần (ngôi ba Thiên Chúa), người được phong tước Hồng Y sẽ luôn luôn được Chúa Thánh Thần soi sáng trong mọi việc. Như vậy, nếu con chiên nào phê bình HY Mẫn sai hoặc ăn bả CS, tất nhiên sẽ mắc vào trọng tội phỉ báng Đức Thánh Cha và phỉ báng luôn cả Chúa Thánh Thần”.... Tuy nhiên, đám này quên rằng giáo dân ngày nay đâu đến nỗi cuồng tín, mù quáng đến độ chỉ biết nghe mà không suy nghĩ để biết rằng “Nhân vô thập toàn”. Và nếu nói rằng nhờ có sự soi sáng của Chuá Thánh Thần để được “thập toàn, thập mỹ” thì Giáo Hội Thiên Chúa đâu có những sai trái như cuộc Thập Tự Chinh ngày xưa, mà cũng chẳng có những vụ án “tình dục” xẩy ra trong hàng giáo phẩm. Mới nhất là việc vô tình bôi nhọ Hồi giáo cuả Đức Giáo Hoàng, để rồi cũng phải lên tiếng xin lỗi. Như thế luận điệu tuyên truyền này, chẳng những đã không hóa giải được những hành xử sai trái của HY Mẫn, mà ngược lại nó có tác dụng như một lời thú tội “Thưa ông, tôi đang ở bụi này” vậy.
Nói riêng về cá nhân HY Mẫn, một số người am tường cho biết ông là một người có những liên hệ mất thiết với đảng CSVN, ông cũng đã thực hiện nhiều công tác giúp CSVN trước đây, như khi sự kiện tượng Đức Mẹ chảy nước mắt tại nhà thờ Sàigòn, chính ông đã giúp công an giải tán đồng bào, không cần biết thực hư như thế nào, ông dùng cái quyền của Hồng Y giải tán giáo dân một cách êm đẹp với những lời hứa cuội, mà đáng lẽ không thể có nơi một vị Hồng Y như ông.
Trong những lần ra hải ngoại, cách đây mấy năm khi sang Úc, HY Mẫn cũng từng ca tụng CSVN đã đổi mới và tiến bộ với rất nhiều xe hơi, nhà lầu và cũng có lần chính HY Mẫn sang Mỹ xin tiền giáo dân, ông đã nói dối đem về xây bệnh viện cho dân nghèo, nhưng rất tiếc cái bệnh viện ấy lại là nơi dành riêng cho tầng lớp cán bộ hưởng thụ. Với những hành xử của HY Mẫn, lúc ấy hàng ngũ giáo phẩm và giáo dân cũng rất bất mãn, nhưng nói ra thì lại sợ cái cảnh “xấu thiếp, hổ chàng” nên đành phải giữ im lặng “nín thở qua sông cho êm chuyện. Cho đến bây giờ HY Mẫn lại kêu gọi xóa bỏ cờ Vàng thì thật là đã quá đáng, vì vậy mọi người đành phải “ngậm đắng, nuốt cay” nói lên sự thật trong cái thế “tức nước vỡ bờ” để nhận diện một cách rõ ràng “Hồng Y Mẫn, ông là ai”
Duyệt qua một vài dữ kiện, có lẽ không một ai có tìm ra một lý do nào khác đã khiến một người lãnh đạo tối cao của Thiên Chúa Giáo tại Việt Nam phải ăn gian, nói dối và vu khống, bôi nhọ cả đấng tối cao ngoài lý do HY Mẫn chính là một người đã bị CS “thuần hoá” và cũng chính ông đang lợi dụng danh nghĩa Thiên Chúa để thực hiện vai trò con rối chính trị cuả đảng CSVN. Và như vậy tội lỗi của ông có lẽ còn tệ hơn hành động Giu Đa bán Chúa nữa.
Nói đến hiên tượng HY Phạm minh Mẫn, đa số không khỏi bùi ngùi nhớ đến hình ảnh của cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận khi xưa với:
“Con có một Tổ Quốc: Việt Nam
Quê hương yêu qúy ngàn đời
Con hãnh diện
Con vui sướng
Con yêu non sông gấm vóc
Con yêu lịch sử vẻ vang....
Con trung thành hết nhiệt huyết
Con bảo vệ bằng xương máu
Con xây dựng bằng tim óc
Vui niềm vui đồng bào
Buồn nỗi buồn của dân tộc....”
Nhưng tiếc thay, HY Phạm Minh Mẫn không có được cái đại tâm này để “Buồn cùng nỗi buồn dân tộc” trong lúc giang sơn bị cắt xén, dân tộc bị bóc lột, khủng bố, đầy ải đến cùng cực. Nếu HY Mẫn mà có được cái “Buồn cùng nỗi buồn dân tộc” như cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, thì chắc chắc trong chức vụ và vị thế của ông, những người tâm huyết như LM Nguyễn Văn Lý cũng không đến nỗi phải khốn khổ, cô đơn, lạnh lẽo nơi nhà tù CS qua nhiều năm và vẫn còn tiếp tục chưa biết đến bao giờ.
Thôi thì dù sao con người của HY Mẫn cũng đã an bài, khó có thể thay đổi. Tuy nhiên không hiểu các vị trong hàng giáo phẩm nơi hải ngoại này có vì cái “đức vâng lời” mù quáng để phải “bưng tai nhắm mắt” trở thành những kẻ phi tổ quốc, phi dân tộc như HY Mẫn hay không, đây mới là điều quan trọng đáng quan tâm.
Sau cùng, thiết nghĩ đối với một người Việt Nam chân chính, có lẽ không còn tình yêu nào cao cả hơn tình yêu quê hương và dân tộc, nhất là trong giai đoạn Tổ Quốc đang lầm than dưới móng vuốt của loài quỷ dữ CSVN. Vì vậy chúng ta đừng bao giờ quên “VC còn, chúng ta sẽ mất tất cả, chỉ khi nào VC mất, chúng ta mới lấy lại được tất cả những gì đã mất”... Hơn nữa, còn một chân lý chúng ta không thể quên là ở đâu có CS, ở đó sẽ không có tự do, dân chủ, nhân quyền và dĩ nhiên Tôn giáo cũng không thoát cảnh bị đàn áp, khủng bố đến triệt tiêu...Tất cả những nới rộng tư duy hay cởi trói Tôn giáo chỉ là điều bịp bợm buôn Thần bán Thánh của một lũ vô thần, vô thủy, vô chung mà thôi.
Lời Phản Nghịch
(Viết về những lời đầy phản nghịch của Hồng Y Phạm Minh Mẫn “sự hiện diện lá cờ Vàng trong đại hội chính là vật cản trở con đường hiệp thông của tuổi trẻ VN với nhau và với Thiên Chúa”).
Nhiễm ”độc trùng” nên lộng ngữ, cuồng ngôn
Khăn Mác Lê, phủ kín cả tâm hồn
Phi Tổ Quốc, phỉ báng danh Thiên Chúa
Yêu “bác đảng” mượn áo dòng nhẩy múa
Bịp con chiên bằng hai chữ “hiệp thông”
Chiếc “Hồng Y”, nay đổi lá cờ hồng
Nhìn lấp lánh máu dân lành vô tội
Giết lương tri, hiến thân làm con rối
Quên tình người, quên cả đấng tối cao
Phận tín đồ, quá trăn trở, lao đao
Nuốt mật đắng, để phơi bày sự thật
Nếu yêu Chúa, dẫu nằm gai nếm mật
Mang chính tâm sáng rọi đến muôn người
Đem an bình gieo rắc khắp mọi nơi
Đâu ngược ngạo gây hận thù, phân hóa
Hồng Y Mẫn, kẻ Sa Tăng “Thuần Hóa” ???
Sao cong lưng, quy phục lũ tội đồ?
Miệng lưỡi hèn, uốn éo giọng lí lô
Lời phản nghịch, thối cả đời lẫn đạo.
Phạm Thanh Phương (Úc Châu)
-Phạm Thanh Phương (Úc Châu)-
Sau nhiều ngày vận động và chờ đợi từ những lực lượng đấu tranh tại hải ngoại, cuối cùng cuộc gặp gỡ của Nguyễn tấn Dũng, Thủ tướng CSVN và Tổng thống Bush đã kết thúc và để lại sau lưng nhiều dữ kiện vui buồn lẫn lộn trong cộng đồng người Việt tại Mỹ nói riêng và trên toàn thế giới nói chung. Những chữ “thành công” và “thất bại” của sự việc, đang là hai đề tài tương đối nỏng bỏng và được bàn tán, bình luận một cách sâu rộng khắp nơi trong những sinh hoạt liên quan đến công cuộc đấu tranh chính trị hiện nay.
Theo một số tin tức đưa ra, trước khi Nguyễn Tấn Dũng đến Mỹ, một số đại diện các hội đoàn người Việt đã gặp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ và đưa một số kiến nghị yêu cầu Tổng thổng Bush áp lực với CSVN về lãnh vực nhân quyền và tự do Tôn giáo. Song song với những nỗ lức đó, sáu dân biểu liên bang Hoa Kỳ đã lên tiếng tố cáo chính sách đàn áp nhân quyền tại dã man tại Việt Nam. Đồng thời một bản lên tiếng của 150 “nhà đấu tranh dân chủ” và nhân quyền tại Việt Nam cũng đã được các vị dân biểu liên bang chuyển đến tay Tổng Thống Bush, để có thể làm bằng chứng áp lực với CSVN trước khi bàn luận về các vấn đề khác như viện trợ, bang giao kinh tế, chính trị, quân sự, giáo dục,v,v....
Tuy đã có nhiều nỗ lực vận động, nhưng sau cuộc xúc với Nguyễn Tấn Dũng, Tổng thống Bush đã cho RFP biết: "Chúng tôi thảo luận về tự do, về tự do tôn giáo và chính trị , tôi cho rằng đường hướng nhà cầm quyền (CSVN) đang hướng về tự do tôn giáo là đáng khen và tôi cảm ơn các nỗ lực mà ông ấy và chính phủ của ông ấy đang thực hiện...". Với câu nói này của TT Bush, đã khiến một số người tỏ ra thất vọng và cho là TT Bush đã “phản bội” niềm tin của họ, phản bội cộng đồng người Việt tỵ nạn và phản bội luôn cả hai chữ “Nhân bản” mà chính nước Mỹ cũng như thế giới tự do thường tuyên dương.
Một số ý kiến khác lại cho rằng lời nói của TT Bush không phải là chính sách, mà chỉ là lời nói của một người không am tường về hoàn cảnh Việt Nam kể cả trước và sau năm 1975, vì thế cũng không nên quan tâm cho lắm. Đây cũng là một lối suy nghĩ rất ấu trĩ, hay có thể là một sự lấp liếm, ngụy biện cho một ý đồ bịp bợm trong một mục đích nào đó. Có lẽ ai cũng biết, sau lưng TT Bush còn có cả một ban tham mưu và lưỡng viện quốc hội, ông không thể tùy tiện, cẩu thả trong bang giao. Do đó đại đa số nhận định, vì quyền lợi của nước Mỹ, TT Bush bắt buộc phải nói như vậy, dù có phải đi ngược lại thực tế. Còn nếu nói rằng TT Bush đã “phản bội” cộng đồng người Việt tỵ nạn thì hoàn toàn không đúng, vì trên thực tế TT Bush chưa bao giờ thề thốt trung thành với bất cứ cộng đồng sắc tộc nào trên đất nước của ông, có chăng ông chỉ có bổn phận trung thành với quốc gia, dân tộc và quyền lợi của quốc gia ông mà thôi.
Ngoài ra cũng có một số người bình luận cho rằng, lời khen CSVN về tự do tôn giáo và nhân quyền của TT Bush được coi như mang hàm ý “dạy cho Nguyễn Tấn Dũng một bài học về nhân bản”, đây cũng lại là một sự võ đoán phi lý, vô căn cứ. Bởi lẽ, hầu như ai cũng biết những lời khen chỉ mang tính “áo thụng vái nhau”, nó xẩy ra một cách rất bình thường trong ngoại giao vì quyền lợi của cả hai bên. Do đó, nếu nói rằng lời nói của TT Bush mang hàm ý “khuyến cáo hay dạy dỗ” Nguyễn Tấn Dũng thì có lẽ nên xét lại. Có chăng đây lại chính là một lời nhắn gởi những kẻ đã tìm cách “Lobby” để gặp được những thành phần trong nội các hay cá nhân TT Bush, rồi dùng sự việc đó bịp cộng đồng mình như đã xẩy ra nơi một số nhân vật, đảng phái và ngay cả với những những tên CS nằm vùng đội lột Quốc Gia. Hơn nữa, lời nói của TT Bush cũng có thể là một thông điệp ngầm, dùng khuyến cáo đừng bao giờ hy vọng rằng chính phủ Mỹ hay bất cứ một quốc gia nào có thể hy sinh quyền lợi dân tộc họ để giải quyết, hay phục vụ quyền lợi của một dân tộc khác. Và đây cũng chính là một bài học để cho những cá nhân hay phe nhóm, đảng phái đang nhẩy múa hô hào là sẽ vận động Mỹ và các quốc gia khác dùng sức mạnh buộc CSVN tái xét Hiệp Định Paris 1973, rút về bên kia vĩ tuyến 17, trả lại toàn bộ lãnh thổ cũng như chế độ VNCH khi xưa trước năm 1975, chỉ là một giấc mơ hoang tưởng. Cũng có thể đây là một lời nhắn gởi, “Hỡi các bạn, nếu thực sự thương dân nước, các bạn hãy nỗ lực cứu dân tộc các bạn thoát khỏi ách lầm than của CS bằng chính sức mạnh và tâm huyết dân tộc các bạn, các nước khác chỉ có thể giúp các bạn trong một sự hạn chế khi các bạn thực sự nỗ lực vận động để vực dậy được sức mạnh dân tộc, chính sức mạnh của dân tộc sẽ giải quyết mọi vấn đề. Nước Mỹ không thể và cũng không có quyền ban phát hoà bình, tự do, dân chủ cho bất cứ một dân tộc nào”.
Trở lại câu chuyện Nguyễn Tấn Dũng, qua một bài phỏng vấn của tạp chí Times do hai phóng viên Jim Erickson và Martha Ann Overland thực hiện. Khi được hỏi về hiện trạng tham nhũng tại Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng đã thể hiện rất rõ nét cái bản chất trơ trẽn bịp bợm cuả CS với sự lúng túng lấp liếm là “để giải quyết vấn đề này, cần cải thiện khuôn khổ pháp lý, minh bạch hóa thị trường tài chính”, nhưng rất tiếc Dũng lại không cho biết đã thực hiện được gì và cũng không dám nói cần phải minh bạch hóa tài sản của giai cấp lãnh đạo. Một điều đặc biệt là Dũng cho báo Times biết rằng, “sẽ tăng lương công chức để họ khỏi tham nhũng”, trong khi cả thế giới đều biết tệ trạng tham nhũng tại Việt Nam là “quốc sách” không phải tệ nạn nhỏ, nó không chỉ xẩy ra tại hạ tầng cơ chế, mà nó phát triển mạnh nhất nơi thượng tầng Trung Ương Đảng CSVN. Như vậy, chắc chắc không phải vì cán bộ đảng thiếu ăn mà xảy ra tham nhũng như Dũng đã bịp, mà nó chính là bản chất một chế độ ngu dốt, nhưng lại thích bóc lột, hưởng thụ. Cứ nhìn lại gia tài và cách ăn xài hưởng thụ của cán bộ thượng tầng tất sẽ rõ, điển hình như vụ tham nhũng tầm cỡ như PMU18 có phải vì đói ăn hay không, có lẽ i ai cũng hiểu. Do đó, “tăng lương công chức” để diệt tham nhũng là một điều bịp bợm rất trơ trẽn và ấu trĩ, không thuyết phục được bất cứ ai dù chỉ là những “em bé quàng khăn đỏ” của đảng.. Một điều trơ trẽn hơn nữa khi tất cả thế giới đều biết hai phóng viên của báo Tuổi Trẻ vvà báo Thanh Tiên bị bắt vừa qua chính là những con dê tế thần trong vụ tham nhũng “cao cấp” PMU 18. Nhưng khi được hỏi đến, Dũng liến thoắng trả lời một cách rất mập mờ đầy khuất lấp và cũng không cho biết hai phóng viên này bị bắt về tội gì, Dũng chỉ nói: “việc bắt hai phóng viên này không có liên quan gì đến cuộc chiến chống tham nhũng. Ông nói Việt Nam là đất nước có sự cai trị của luật pháp, tất cả mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và những ai vi phạm đều bị trừng trị, không kể người đó là ai”.
Với một số dữ kiện điển hình nêu trên có lẽ một lần nữa chúng ta có thể tái khẳng định, CSVN không còn là một con người đầy đủ liêm sỉ và nhân cách và đạo đức, để có thể hy vọng một sự ý thức giác ngộ nào đó đối với quê hương và dân tộc dù chỉ là một “cơn gió thoảng” nhỏ nhoi.
Tóm lại, sự thành công của Dũng trong chuyến đi này là đã được những nước “tôn trọng nhân bản” như Mỹ che chở và xoa đầu ban khen, do sự cong lưng uốn lưỡi, buôn dân bán nước của CSVN. Ngược lại, sự thành công của người Việt hải ngoại nói riêng và toàn dân tộc Việt Nam nói chung là nhận diện được sự thật, dù một sự thật có phũ phàng. Sự thật ấy là không thể tin tưởng vào bất cứ một thế lực nào hay một quốc gia nào có thể hy sinh quyền lợi của họ để giải quyết vấn đề tự do, dân chủ và nhân quyền trên quê hương Việt Nam, nếu chúng ta không tận dụng mọi nỗ lực lấy về. Và nhận diện được một số cá nhân, phe nhóm, đảng phái bịp bợm hay Việt gian một cách rõ nét hơn.
Phạm Thanh Phương (Úc Châu)
Phạm Thanh Phương (Úc Châu)
Trong những ngày vừa qua, dư luận đã bàn tán xôn xao và tỏ ra rất bàng hoàng trước bản tin mang đầy tính "bi, hài", thể hiện tính đặc thù tuyệt đỉnh văn hoá của XHCN, qua hành xử bất chấp liêm sỉ và Quốc thể của một số quan chức Trung Ương Đảng CSVN.
Theo báo L'Echo đưa tin, vào hôm Thứ Sáu, ngày 13-6-2008, các quan chức Trung Ương Đảng CSVN đã ngang nhiên cưỡng đoạt chỗ ngồi của phái đoàn ngoại giao Bỉ trong một chuyến bay từ Hànội vào Saìgòn của hàng không VN, mặc dù những chỗ ngồi này được phái đoàn Ngoại giao Bỉ đặt trước và đã trả tiền. Khi bị đám côn đồ lâu nhâu giành chỗ, ông Bộ trưởng Ngoại giao Bỉ Karel De Gucht và phái đoàn vẫn lịch sự nhường chỗ trong im lặng. Riêng ông Đại sứ Cooreman, có lẽ vì đã có kinh nghiệm “đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy” tại Việt Nam, nên ông đã lên tiếng phản đối và giữ lại được hai chỗ cho ông và cho một viên chức cao cấp khác trong phái đoàn Ngoại giao.
Ngược dòng lịch xử hơn 60 năm với miền Bắc và hơn 30 năm qua với miền Nam Việt Nam, từ khi tên tội đồ Hồ Chí Minh xuất hiện với chủ thuyết CS thì những hành xử vô văn hoá như một đàn bò này của "đỉnh cao trí tuệ XHCN" không phải là một điều lạ đối với người Việt Nam. Tuy nhiên, đối với các dân tộc văn minh nhân bản khác như Bỉ, Pháp, Anh, Mỹ, Úc,v,v, thì lại là một hiện tượng rất lạ thuộc loại đặc biệt, nó tựa như một quái thai của thế kỷ chưa từng xẩy ra trong xã hội loài người, nhất là trong thể kỷ văn minh, tiến bộ, nhân bản như hiện nay. Tưởng cũng nên nhấn mạnh ở đây, báo L'Echo là một tờ báo lớn của Bỉ quốc, nơi được mệnh danh là “Thủ Đô Thương Nghiệp” của Âu Châu. Vì thế, bản tin đặc biệt này đã thu hút rất nhiều độc giả khắp thế giới và trở thành một đề tài đàm tiếu, như một sự hối tiếc cho nhân loại. Ngoài ra báo Le Soir và đài RTL (Radio Télévision Luxembourg) cũng đã đưa tin và bình luận rất nhiều về hiện tượng quái đản này.
Một điều lạ hơn nữa, một sự kiện mang tính quốc tế thuộc lãnh vực ngoại giao và có ảnh hưởng rất lớn đến Quốc thể, cũng như văn hoá truyền thống Việt Nam, nhưng không hiểu sao giới truyền thông trong nước vẫn giữ một thái độ im lặng như không hề biết chuyện gì đã xẩy ra. Trước sự im lặng này đại đa số dư luận nhận định theo hai nghĩa, thứ nhất có thể nhà nước CSVN đã chỉ thị cho giới truyền thông XHCN không được phép loan tải và bình luận, vì đây là bản chất “Ưu Việt” của đảng, e rằng nói ra sợ thiên hạ học được thì lại mất đi tính độc quyền. Thứ hai, có thể giới truyền thông Việt Nam cho rằng sự kiện này cũng chằng đáng quan tâm, vì đây chỉ là sự cưỡng đoạt một vài chỗ ngồi, nó cũng chưa đến nỗi xẩy ra những lời lẽ thô tục hay “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” của tầng lớp cán bộ đảng, như đã và đang xẩy ra như cơm bữa trên khắp nẻo đường đất nước trong suốt dòng lịch sử của đảng CSVN.
Cũng trong sự kiện này đa số nhận định, có lẽ giới truyền thông trong nước đã chứng kiến qúa nhiều sự kiện đặc biệt hơn thế, như lãnh đạo của họ đã từng cúi đầu dưới chân Trung Cộng để dâng hiến Hoàng Sa, Trường Sa, Bản Giốc, Nam Quan. Ngoài ra họ cũng từng “phấn khởi, hồ hởi” khi cựu Thủ tướng của họ là Phan Văn Khải đã trơ trẽn cúi lưng, cong lưỡi trước mặt nhà tư bản Bill Gates để than oán, xin xỏ, hay Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết của họ cũng từng thể hiện bản chất ma cô khi quảng cáo gái Việt Nam một cách nham nhở và bỉ ổi tại Mỹ. Cũng vì thế mà họ không cảm thấy sự kiện các “ngài” lãnh đạo của họ cưỡng chiếm chỗ ngồi của phái đoàn Ngoại Giao Bỉ là một điều rất bình thường, không có gì phải ầm ỹ loan tin, hay bình luận. Tuy nhiên, theo dõi những ý kiến đã đưa ra tại hải ngoại, rất hiếm người dám nhìn nhận sự thật cái hành xử vô văn hóa của đám rừng rú Trung Ương Đảng CSVN, mà hầu như đa số vẫn cố tình bẻ cong ngôn từ và tư duy để để đổ lỗi cho nhân viên Hàng Không VN tắc trách trong điều hợp.
Cũng trong tờ L'Echo, một bài viết khác ký tên Vũ Đức Khanh đã được đang tải ngay bên dưới bản tin, bài viết bằng Pháp ngữ với nội dung xin lỗi sặc mùi XHCN, trong đó tác giả đã thay mặt cả “nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước” để xin lỗi nhân dân Bỉ, mà lại không nhân danh đảng CSVN để xin lỗi phái đoàn Ngoại Giao Bỉ về như những gì đã xẩy ra. Mặc dù câu chuyện rõ ràng do bọn quái thú Trung Ương Đảng CSVN tạo nên.
Mở đầu bài viết xin lỗi có đoạn "Au nom de tous mes compatriotes vietnamiens tant à l'intérieur qu’à l'extérieur du pays, je voudrais présenter mes excuses mille fois au peuple belge", tạm dịch “Thay mặt cho nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước, tôi xin gởi đến nhân dân Bỉ Quốc ngàn lời xin lỗi này...”. Với đoạn văn trích dẫn, đại đa số cho rằng cái lối cưỡng từ đoạt lý và hàm hồ này chắc chắn xuất phát từ đám rừng rú CSVN đang có mặt tại hải ngoại. Bởi lẽ, chỉ có đám CSVN mới có cái lối lợi dụng hai chữ “nhân dân” để làm bình phong che đậy những hành xử bỉ ổi, thối tha, nhất là những lời vơ vét, tiếm danh cả cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại. Vì vậy đại đa số nhận định chắc chắn bài viết này xuất phát từ toà Lãnh sự hay Đại sứ CSVN nào đó tại Âu Châu. Tuy nhiên, có lẽ ai cũng biết, sự việc xẩy ra thuộc lãnh vực ngoại giao, cho dù CSVN có ngu xuẩn đến đâu đi chăng nữa, chắc chắn Bộ Ngoại Giao CSVN phải gởi công hàm đến Bộ Ngoại Giao Bỉ quốc xin tạ tội và phải được công khai trên báo chí, nó không thể là một bài viết mang tính cá nhân, đăng khơi khơi trên báo như một ý kiến nh ư vậy. Do đó, một số dư luận khác cho rằng, bài viết xin lỗi sặc mùi ngu xuẩn của XHCN nêu trên, được xuất phát từ một người dân bình thường, đang đau khổ trong nhẫn nhục, họ mượn bài viết để nói lên một sự thật đau lòng, đồng thời bạch hoá cái văn hoá rừng rú của đám quái thú CSVN.
Nếu người đọc chịu khó suy nghĩ kỹ đoạn văn trích dẫn trên, có thể sẽ tìm được một sự đồng cảm với tác giả với cái đau “nhục quốc thể”, và lập luận toàn thể dân tộc trong và ngoài nước cũng có trách nhiệm phải xin lỗi. Toàn thể dân Việt phải xin lỗi bởi chính thái độ thờ ơ an phận, mà người Việt Nam chưa thể đứng lên tận diệt đám quái thú CSVN, để những sự kiện “nhục quốc thể” như thế này phải xẩy ra. Một số khác lại cho rằng, không những người Việt Nam chúng ta xin lỗi phái đoàn Ngoại giao và người dân Bỉ, mà còn phải cúi đầu tạ lỗi với tổ tiên nữa. Bởi chính cái thái độ an phận của người Việt Nam, cộng chung với những vị kỷ thấp hèn của một số cá nhân, phe nhóm, hay đảng phái đang bềnh bồng trên dòng tỵ nạn, vì vô tình hay cố ý đã và đang tiếp tay cho đám quái thú CSVN phá hủy giang sơn và phỉ nhổ vào nền tảng văn hoá truyền thống của dân tộc, được hun đúc bằng tất cả mồ hôi, xương máu của tiền nhân trên suốt dòng lịch sử.
Tóm lại, trước sự kiện đau lòng nêu trên, có lẽ những người Việt Nam chân chính đã xác định một chân lý “CS muôn đời là CS với một bản chất của một loại thú hoang bất khả giáo hóa”, dù là CS đương thời, về hưu hay “phản tỉnh”. Do đó, tất cả những cá nhân, tổ chức, đảng phái nào tin tưởng vào sự giác ngộ của CS để bắt tay hoà hợp, xây dựng đất nước là một điều không tưởng, nếu không muốn nói là họ đang làm công việc tay sai cho CS, bịp bợm hầu mong chia chác quyền lợi trên xương máu của dân tộc và đồng hoá cộng đồng người Việt tỵ nạn trở thành thần dân của chế độ phi nhân CSVN, như CSVN đang thực hiện qua cái gọi là nghị quyết 36. Ngoài ra, đây cũng là một bài học qúy giá cho các quốc gia nhân danh “nhân bản” đang làm ngơ trước những đau khổ của dân tộc Việt để bang giao “thắm thiết” với CSVN trong kinh nghiệm “yêu chó, chó liếm mặt”.
Trở lại sự việc, ai cũng thấy chỉ vì chỗ ngồi trên máy bay mà bọn quái thú đã quên chính bản thân, quên dân tộc và tổ quốc để thể hiện cái bản chất côn đồ một cách nhục nhã như thế. Vậy thử hỏi làm sao CSVN có thể ý thức, giác ngộ chia quyền lực cho các thế lực khác nhằm tạo thế “đa nguyên, đa đảng”, kiến tạo một nền dân chủ thực sự cho quê hương. Đây cũng là một sự kiện qúy giá cho thấy những cá nhân, tổ chức hay đảng phái, đang mơ tưởng có thể dùng Công Pháp Quốc Tế hay vận động thế lực này, sức mạnh kia, mong CSVN phải thi hành hiệp định Paris 1973, buộc CSVN lui về bên kia vĩ tuyến 17, trả lại lãnh thổ và chế độ VNCH như ngày xưa trước năm 1975 chỉ là những suy tưởng ấu trĩ, nếu không muốn nói là thuộc loại “bất bình thường”, hoặc cũng có thể họ đang thi hành một nhiệm vụ đặc biệt, hầu nhiễu loạn nhân tâm, tiêu diệt niềm tin đấu tranh trong chính nghĩa của toàn dân, phá vỡ các nỗ lực đấu tranh đi tìm dân chủ tự do và nhân quyền cho quê hương. Chúng ta nên đề cao cảnh giác.
Phạm Thanh Phương (Úc Châu)
Trích nguồn tin từ:
http://www.lecho.be/actualit%C3%A9/belgique/Karel_De_Gucht_retrograde_en_classe_economique_au_Vietnam.7670100-589.art
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2008/06/080620_belgiuministervietplane.shtml
Trong mấy ngày gần đây, dư luận khá ồn ào bàn tán về cái chết của ông Võ Văn Kiệt, cựu Thủ tướng CSVN. Theo dư luận chung, một số người cho rằng sự kiện ông Kiệt vĩnh viễn ra đi là một mất mát lớn cho phong trào đòi tự do dân chủ cho VN, vì ông chính là một ngôi sao sáng của ý thức, giác ngộ và có tâm huyết với quốc gia dân tộc từ nhiều năm qua. Ngược lại, đại đa số lại cho rằng vai trò “ý thức, giác ngộ” của ông Kiệt chỉ là một con rối của đảng CSVN trong một giai đoạn rất cần thiết, nhằm tạo một trận hỏa mù “dân chủ biểu kiến”, hầu hóa giải những cá nhân hay tập thể trong mặt trận đấu tranh đòi dân chủ, tự do thực sự cho quê hương. Nó cũng như một loại “cò mồi” trong chiến dịch “trăm hoa đua nở” ngày xưa.
Nói về sự “ý thức, giác ngộ” trong những năm còn tại chức, số người ái mộ nhận định ông Võ Văn Kiệt và Nguyễn Văn Linh là những người rất can đảm và có tâm huyết với quê hương dân tộc, bởi thế hai ông ấy mới dám nói, dám làm để “cải tạo” xã hội với chính sách kinh tế từ bao cấp chuyển sang khinh tế thị trường. Và ít nhất kết qủa đã cho thấy một sự thay đổi rõ rệt với một bộ mặt xã hội khá hơn và đời sống người dân đỡ khổ hơn, ít nhấn là tại miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Nhưng rất tiếc, người ta đã quên rằng trong chế độ CSVN, đảng lãnh đạo thì không ai có thể tự ý hành động “chệch hướng” ngoài quỹ đạo của đảng. Sự đổi mới của ông Kiệt và ông Linh chẳng qua chỉ làm theo chỉ thị dùng cứu đảng trong cơn nguy cấp, chứ không phải thực sự cứu dân, cứu nước.
Trở về vào những năm đầu khi cưỡng chiếm được miền Nam, CSVN đã bày ra cái trò cướp của giết người qua chính sách tập trung “cải tạo” những thành phần quân, cán chính VNCH, “đánh tư sản, đổi tiền”. Riêng chính sách đổi tiền, mỗi gia đình chỉ được đổi 200 đồng, còn lại bao nhiêu đảng “tập trung quản lý”, đây là một hành động ăn cướp trắng trợn và bỉ ổi nhất của đảng CSVN. Như vậy cái “ý thức, tâm huyết” của ông Kiệt lúc ấy ở nơi đâu?
Theo những người am tường CS cho biết, tất cả những của cải ăn cướp lúc ấy, một phần đem trả nợ chiến tranh cho các nước CS “anh em”, phần còn lại các cán bộ trung ương chia chác “quản lý”. Chính vì thế toàn thể đất nước đã đi vào đói rách, tan hoang tận cùng, người dân cũng chẳng còn gì cho đảng lột và e rằng sẽ có biến loạn. Vì vậy, đảng bắt buộc phải ra chỉ thị cho ông Kiệt thi hành chính sách “đổi mới”, hầu có thể cứu vãn tình hình, tạo cơ hội cho người dân có một chút sinh khí để thoi thóp và “Việt Kiều” mới có cơ hội mang tiền về cho đảng tiếp tục thụ hưởng. Cũng từ đó, bản chất gian tham của CSVN mới có dịp phát triển mạnh hơn như sóng dậy, triều dâng và kéo dài đến hôm nay.
Thực sự mà nói, nếu ông Kiệt có tư tưởng yêu dân, yêu nước, yêu tự do, dân chủ và có can đảm dấn thân, thì chắc chắn không có ba cái chính sách cướp của, giết người tàn bạo, và những đau thương đói rách, ly tán trong từng gia đình người dân trong những năm 1975-1990 tại miền Nam Việt Nam nói chung và Sàigòn nói riêng cũng không đến nỗi quá tàn bạo thê lương. Ngay cái Nghị Định 31/CP (Quản Lý Hành Chánh) dùng khống chế, khủng bố những tiếng nói dân chủ ở đâu ra, có phải chính tay ông Võ Văn Kiệt đã ký vào ngày 14-4-1997 không? Hay tự trời cao rơi xuống? Có lẽ trong chúng ta ai cũng có câu trả lời. Hơn nữa, một điều không thể chối cãi là cái gia tài kếch xù của ông Kiệt hiện nay cũng chính là xương máu của người dân mà ông Kiệt đã “ý thức, giác ngộ & can đảm” mang về. Như vậy, phải chăng những điều đòi dân chủ, diệt tham nhũng của ông Kiệt chỉ được xuất phát nơi cửa miệng trong kế sách tạo hỏa mù để cứu đảng và tự bảo vệ cái gia tài của ông?
Theo những gì ông Kiệt đã nói và viết, thực sự nó cũng không ngoài mục đích tạo một niềm tin ảo nơi người dân, nhất là những thế lực đấu tranh tại hải ngoại, nó như một sự khuyến cáo rằng: “Cán bộ trung ương đảng cũng chưa thực sự là loại súc vật đâu, vẫn còn rất nhiều người yêu nước tớ đấy, toàn dân hãy tin vào thiện chí đổi mới của đảng, hãy đoàn kết sau lưng đảng để cùng đóng góp xây dựng đất nước, hãy nối kết, hoà hợp với đảng để cùng canh tân, sự chống đối không đem lại kết quả tốt, mà chỉ gây ra hận thù...”,v,v...
Nhìn vào sự kiện, có lẽ không ai phủ nhận vào những năm cuối đời của ông kiệt, trên hình thức sự “giác ngộ và tâm huyết” của ông Kiệt trước hiện tình đất nước qua một vài câu tuyên bố hay những bài viết được truyền tải khắp nơi là một sự thật hiển nhiên. Tuy nhiên nếu xét cho kỹ, chắc chắn sẽ thấy được những điều ông Kiệt đưa ra không có gì gọi là mới lạ, nó hoàn toàn những điều ai cũng biết, đảng CSVN có muốn giấu cũng không được. Hơn nữa, quan trọng là những điều ông Kiệt đưa ra, không phải lúc còn tại chức với đầy đủ quyền lực, mà ông chỉ đưa ra khi ông đã bị thất sủng, không còn quyền hành hay chức vụ gì trong guồng máy khống chế đất nước và dân tộc của đảng CSVN. Vì vậy đa số thắc mắc, những điều ông Kiệt nói và viết có thực sự từ tâm huyết yêu nước hay không? Hay ông chỉ làm nhiệm vụ một con rối trong chính sách “dân chủ biểu kiến” xuất phát từ vô thức nơi căn tính CS, để tiếp tục lừa thiên hạ.
Cách đây mấy năm, trước lời kêu gọi “tha thiết” đóng góp ý kiến đầy tính “dân chủ” của đảng CSVN trước thềm đại hội X, lúc ấy ông Kiệt cũng đã tiên phong cực lực lên án độc tài và đòi dân chủ, nhưng rất tiếc ông cũng chỉ đòi dân chủ trong nội bộ đảng theo mục tiêu “dân chủ tập trung” chứ không phải đòi dân chủ thực sự cho dân tộc.
Mới đây, ngay trong lãnh vực tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, ông Kiệt đã không ngần ngại trách móc đảng “Truyền thông là một công cụ của đảng, dùng xây dựng đảng, nhưng đảng CSVN chưa thực sự khai thác hết được tiềm năng của lãnh vực này...”. Cũng từ câu nói này, đại đa số nhận định, có lẽ cũng do sự “giác ngộ tâm huyết” của ông Kiệt mà hiện tượng báo chí chống tham nhũng hơi quá tay, vượt qua chỉ thị của đảng, nên một vài nhà báo “được” đảng “chiếu cố” tận tình như đã và đang xẩy ra, hoặc những “nhà đấu tranh dân chủ” đang bị quản chế, tù đầy,v,v.. Những hiện tượng này chứng tỏ đảng và nhà nước CSVN đang thi hành triệt để cái tinh thần nghị định 31/CP của ông Kiệt để lại, mặc dù trên hình thức nay nó chỉ còn là một cái thây ma.
Một điều nữa mà dư luận cũng không kém xôn xao bàn luận và đặt một câu hỏi lớn tại sao một người “chống đảng” như ông Kiệt, nhưng vẫn được đảng CSVN trịnh trọng cử hành tang lễ rầm rộ như quốc táng? Đây chính là một điều trái khoáy và tạo ra sự ngạc nhiên của nhiều người. Tuy nhiên nếu xét cho cùng, nó cũng chẳng có gì ngạc nhiên, mà là điều dĩ nhiên phải có với hai nguyên do sau: Thứ nhất, trên hình thức đảng và nhà nước CSVN muốn chứng tỏ sự đạo đức và khoan dung với ông Kiệt để bịp thiên hạ là đảng không còn khát máu, ấu trĩ như trước nữa. Đồng thời “Động viên” những thành phần chống đảng thực sự nên lộ diện để đảng dễ dàng mua chuộc hay thu gom.
Thứ hai, ngầm khuyến cáo cho đảng viên biết được, hãy cứ bắt chước ông Kiệt “nhẩy múa” theo lệnh đảng dù có phải hy sinh làm con dê tế thần, thì cuối cùng vẫn được đảng ghi công và gắn huân chương đầy đủ, thậm chí có thể được vinh dự hưởng quốc táng không chừng, tùy theo chức vụ và hoàn cảnh.
Tóm lại, với những sự kiện và diễn biến như đã thấy, dư luận tạm kết luận, vai trò ông Võ Văn Kiệt chẳng qua cũng chỉ là một con rối của đảng không hơn không kém. Tất cả những lời nói và việc làm của ông khi tại chức cũng như khi về hưu chưa hề chệnh hướng ra ngoài chính sách và đường lối của đảng đề ra. Do đó, đảng CSVN có tỏ ra ưu ái làm tang lễ long trọng cho ông cũng không có gì để ngạc nhiên. Biết đâu sau này lại những nhân vật đảng phái, “đấu tranh” tại hải ngoại như Bùi Tín, Đảng trưởng hay Tổng bí thư của một đảng “bưng bô” nào đó, khi từ giả cõi đời cũng sẽ được đảng và nhà nước CSVN “triệu” cái xác về cử hành tang lễ long trọng như ông Kiệt hay hơn nữa thì cũng chẳng có gì để ngạc nhiên. Nếu đảng CSVN còn tồn tại.
Phạm Thanh Phương (Úc Châu)
(Thương Về Ngày Quân Lực 19-6)
Sau khi cưỡng chiếm toàn thể Giang Sơn, chiếc mặt nạ vì dân vì nước của CSVN bị rơi xuống, và lộ ra rõ rệt bản chất hung ác của một bầy quái thú đội lốt người. Lúc ấy, toàn dân mới tỉnh ngộ, hiểu rõ hơn và thông cảm hơn được cái khó khăn của ngưòi lính VNCH trong một thời binh lửa.
Nhìn vào cuộc chiến một cách khách quan, chắc chắn không ai có thể phủ nhận những chông gai, gập gềnh, khúc khuỷu của người lính VNCH dưới một chế độ tự do, dân chủ non trẻ, mang tính phôi thai. Một mặt họ phải xây dựng đất nước, xây dựng hạnh phúc, an vui, ấm no, cho đồng bào. Một mặt phải chống đỡ cả một thế lực CS Quốc tế qua lá bài CSVN. Hơn thế nữa, họ còn phải chịu biết bao nhiêu chỉ trích xuyên tạc, một cách cay nghiệt từ khối truyền thông tây phương và các phong trào phản chiến. Đây cũng là những vết thương tâm hồn mà người lính VNCH đã phải gánh chịu. Nhưng tất cả, không thể làm họ sờn lòng, để sao lãng trong trách vụ thiêng liêng của những người trai thời loạn.
Giang hồ một gánh, tình non nước
Vạn dặm sơn khê, trải gót giầy
Miệng hô giết giặc tay ghì súng
Máu nhuộm san hà, hạnh phúc xây
Kể từ ngày lịch sử sang trang 30-4-1975, chỉ có người dân Việt Nam mới biết được rõ ràng thế nào là sự lừa đảo trắng trợn, tàn ác nhất thế kỷ của đám quái thú CSVN. Hơn nữa người dân cũng hiểu rõ hơn, thế nào là sự trân quý của những chữ tự do, dân chủ và nhân quyền , thế nào là anh dũng, hào hùng và thế nào là “Nòng súng nhân đạo, cứu người lầm than” của người lính VNCH, để rồi hoài vãng trong trăn trở, giao cảm trong xót thương,v,v...
Nhưng than ôi! tất cả đã qúa muộn màng, có còn chăng chỉ là một sự an ủi nào đó, cho những mảnh đời loang lổ trong những trại tập trung nơí rừng thiêng nước độc. Tuy nhiên, đối với người lính VNCH, tất cả họ chỉ coi là một khúc quanh ngặt nghèo của vận nước, nó không đáng gì để than oán, quắt quay. Cái quan trọng và đau khổ nhất của họ là khi phải bó tay trong cái thế “Cờ còn nước đánh, đã vội thua”, để toàn dân phải lún sâu trong vũng lầy đen tối nhất của nhân loại...
Bây giờ tất cả đã qua đi như một cơn ác mộng, những khổ ải xương máu và ngục tù đã từng đè nặng trên bản thân họ, có còn chăng chỉ là những kỷ niệm, dùng làm kinh nghiệm để bồi đắp cho hành trang trong hiện tại, bởi thực sự cuộc chiến vẫn chưa tàn. Tuy rằng không còn là những trận địa hãi hùng như năm xưa, mà đã được chuyển hướng sang một cục diện mới, khó khăn hơn và tế nhị hơn trong mặt trận chính trị và nhân tâm của hiện tại.
Ngày nay, trong kiếp sống lưu vong rải rác trên khắp thế giới, nhưng không có nghĩa là những người lính còn lại của năm xưa đã lùi vào quá khứ, chịu khuất phục buông xuôi để nhìn dân tộc mình đang ngụp lặn trong khốn cùng, nhơ nhớp, tủi hờn. Ngược lại, họ đã góp nhặt tất cả những gì còn tồn đọng trong cuộc đời mình, đã và đang cùng toàn dân đi tìm một trang sử mới trên mọi lãnh vực, mong giải thoát dân tộc khỏi chốn lầm than do bàn tay CSVN gây ra...
Thân dẫu lang thang, hồn tại quốc
Mặc đời dang dở, tuyết thành vây
Súng mất, ta còn tim với óc
Quê cha nặng nợ, nghĩa ân dầy
Miệt mài 33 năm qua, điều đáng buồn là vì một lý do nào đó, trong con mắt khoa bảng Tây phương, cũng còn một số người không thể nhận ra cái chân giá trị của hai chữõ chính nghĩa trong cuộc chiến và chân dung đích thực người lính VNCH, để đã có những nhận định một cách bỉ ổi đầy ác ý.... Ngoài ra còn một số khoa bảng “Tỵ Nạn”, mang bản chất tự ti, ươn hèn, đã và đang tung hứng, liên thủ với Việt gian để bôi nhọ cuộc chiến, nó như những nhát dao đâm sau lưng những người đã anh dũng hy sinh bảo vệ tổ quốc và hạnh phúc của đồng bào trước năm 1975, trong đó có cả chính bản thân họ. Tuy nhiên, nếu chúng ta bình tâm suy nghĩ để so sánh những người lính VNCH với một quân đội hùng mạnh nhất thế giới hiện nay là Hoa Kỳ, chắc chắn chúng ta sẽ hãnh diện hơn và cảm phục hơn về người lính VNCH của chúng ta rất nhiều.
Những người lính Mỹ trong chiến tranh Viêt Nam năm xưa, hay trên chiến trường Iraq hiện tại. Họ là những người lính được trang bị vũ khí tối tân nhất với nguồn tiếp vận đầy đủ nhất, nếu không muốn nói là dư thừa. Hơn nữa, thời gian chiến đấu của họ có hạn định, thông thường là chỉ từ sáu tháng đến một năm, rồi được trở về vui sống bên gia đình. Họ không phải vướng bận, lo nghĩ đến hoàn cảnh an nguy của hậu phương. Ngược lại trong cuộc chiến trước năm 1975, người lính VNCH đã phải chiến đấu với những vũ khí bình thường nhất và nguồn tiếp liệu có thể gọi là thiếu thốn. Trong khi đó, một mặt ngày đêm phải đối diện với tử thần, một mặt vẫn còn phải ưu tư lo lắng cho gia đình, thân nhân và đồng bào nơi hâu phương... Như vậy, thử hỏi nếu đặt người lính Mỹ trong hoàn cảnh của người lính VNCH của chúng ta, thì không biết họ sẽ chịu đựng được bao lâu...Một sự thật hiển nhiên, bất khả chối từ , nhưng không hiểu, tại sao vẫn còn có những cái nhìn sai lạc một cách vô ý thức để bôi nhọ, làm lợi cho bọn tội đồ CSVN.
Trong cục diện đấu tranh hôm nay, điều đáng buồn hơn nữa là một số người vì một chút danh lợi phù du, họ đã lợi dung danh nghĩa bốn chữ VNCH tạo ra những điều trái khoáy không tưởng, từ đó vô tình hay cố ý đã tạo ra những ngộ nhận về chân dung người lính VNCH một cách tàn nhẫn, làm mất niềm tin nơi thế hệ con em và tạo cơ hội cho CSVN tuyên truyền bôi nhọ. Do đó, chúng ta nên suy xét kỹ lưỡng trước mọi hiện tượng, hầu có thể nói lên sự thật để có thể bảo vệ chân dung của người chiến sĩ VNCH mãi mãi có một vị trí trang trọng trong lòng dân tộc như ngày nào trên quê hương.
Hôm nay, nhân dịp tưởng niệm ngày quân lực 19-6, chúng ta nên bình tâm nghĩ về người lính VNCH để thấy được mình còn hãnh diện, đã có những người con yêu Tổ Quốc, hào hùng, can đảm của một giống Rồng Tiên và cầu xin những anh hồn linh thiêng ấy, phù hộ cho chúng ta được vững tâm, dũng tiến trên con đường tận diệt lũ bạo tàn, để tìm lại ánh sáng cho quê hương trong tình yêu truyền thống của lịch sử dân tộc.
Phạm Thanh Phương (Úc Châu)
Trong những ngày gần đây, dư luận cũng khá xôn xao về hiện tượng hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến, báo Thanh Niên và Nguyễn Văn Hải báo Tuổi Trẻ đã bị bắt ngày 12-5-2008 vừa qua chỉ vì dám tố giác tham nhũng, đồng thời khởi tố Phạm Xuân Quắc, thiếu tướng công an nguyên cục trưởng C14 CSVN và một số thuộc cấp. Trước sự kiện này một số dư luận cho rằng, đây chỉ là những hình thức thanh trừng nội bộ, chứng tỏ một sự rạn nứt trầm trọng trong nội bộ đảng CSVN, và sự kiện hai nhà báo bị bắt chính là một sự tuyên chiến ngầm với truyền thông VN. Như vậy trong những ngày sắp tới giới truyền thông VN sẽ có những phản ứng rất mạnh mẽ để tự “cởi trói”, khai thông bức màn bưng bít từ xưa đến nay và từ đó xã hội VN sẽ có những điều mới lạ rất có lợi cho mọi lãnh vực đấu tranh của toàn dân.
Chuyện thế sự “máu mào gà vỏ lựu”
Phấn trinh nguyên, che phủ nét phong trần
Tung hỏa mù lẫn lộn khó định phân
Tạo ảo giác làm bình phong lừa bịp
Theo dõi những diễn biến từ những năm qua, dư luận nhận định rằng sự kiện truy tố những tay trùm tham nhũng như Nguyễn Tiến Dũng, Đào Đình Bình, Nguyễn Việt Tiến,v,v...Tất cả chỉ là những trò lừa bịp, Dũng, Bình, Tiến chẳng qua cũng chỉ là những “con dê tế thần” trong một giai đoạn cần thiết, để đảng CSVN có thể chứng tỏ với quốc tế là đảng và nhà nước đang ra sức trong sạch hóa xã hội, đồng thời cũng tạo một trận hỏa mù, mong tập trung dư luận được yểm trợ tích cực với những “chuyên gia vỗ tay” cả trong lẫn ngoài nước, đồng thanh tung hô đảng giác ngộ, cải tiến, canh tân... Đến nay, giai đoạn cần thiết ấy đã qua đi, sự việc coi như đã tạm ổn định, tất nhiên đảng CSVN bắt buộc phải giải tỏa cho “những con dê thế thần” bằng mọi cách, hay nói đúng hơn là những “con dê “ này đã mãn nhiệm kỳ “công tác” mà đảng giao phó. Nếu không sẽ xẩy ra cái cảnh “bứt mây động rừng” hay “môi hở răng lạnh” thì lại càng thêm kẹt, bởi lẽ toàn thể tập đoàn CSVN đều là những con sâu mọt, đã và đang cùng nhau đục khoét giang sơn. Vì thế muốn gỡ tội cho đồng bọn, CSVN bắt buộc phải đem những “con dê” khác “điền vào chỗ trống” cho hợp lý. Công việc “điền vào chố trống này”, CSVN cũng tạo cho một số người “ngộ nhận” hay cố tình “ngộ nhận” cho rằng trong nội bộ đảng CSVN hiện có hai phe đang đấu đá nhau, và phe tham nhũng đang trên đà thắng thế, cho nên những người liên quan đến vu án PMU18 như công an Quắc và hai nhà báo mới bị “ngộ nạn”. Nếu nói phe tham nhũng đang thắng thế, vậy thử hỏi phe nào là phe trong sạch đây. Nếu nhìn vào thực tế một cách thật khách quan, có lẽ không ai có thể phủ nhận trong chế độ độc tài toàn CSVN, tham nhũng không phải là một quốc nạn và là một quốc sách. Tuy vậy, để che mắt thế gian, lúc nào đảng cũng có sẵn trong tay một danh sách những con dê tế thần, có thật, có giả, chia ra từng giai đoạn, từng sự việc, sẵn sàng tung ra đúng lúc như một vở kịch mà “nạn nhân” là những diễn viên nòng cốt “phấn khởi, hồ hởi” diễn xuất.
Cũng từ đó nên dư luận nhận định, hiện tượng Phạm Xuân Quắc bị truy tố là một vai trò rất cần thiết trong lúc này dùng “gỡ rối tơ lòng” cho đảng, một khi dư luận được chìm vào quên lãng, không ai buồn nhắc đến một kẻ hồi hưu, không còn quyền lực và lúc đó Quắc cũng sẽ được ung dung tự tại an hưởng tuổi già với gia tài sẵn có. Còn lại có lẽ chỉ có hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải là những kẻ thực sự bị ngộ nạn một cách đau khổ trong vở tuồng “gỡ rối tơ lòng” bịp bợm này mà thôi.
Cũng trong sự kiện này nhiều người cho rằng, đây cũng là một cơ hội hiếm qúy để giới báo chí có thể vùng lên làm lớn chuyện, có thể tự cởi trói, thoát khỏi sự kìm kẹp của đảng, đòi cho được quyền tự do, độc lập, và từ đó bộ mặt xã hội và chính trị cũng có thể nương theo để thay đổi và giúp phương tiện cho những cá nhân, tập thể đấu tranh sớm hoàn thành sứ mạng cao cả tìm lại tự do dân chủ, nhân quyền cho quê hương dân tộc. Tuy nhiên, sau ít ngày theo dõi sự tình, đại đa số tỏ ra bi quan và thất vọng khi biết được tất cả báo chí trong nước đã được lệnh ngưng đưa tin và bình luận sự kiện này. Đây cũng chính là một điều rất buồn trong cục diện đấu tranh hiện tại. Bởi lẽ ai cũng biết, truyền thông là một lãnh vực quan trọng dùng nâng cao dân trí để phát tri ển dân sinh, đồng thời cũng là huyết mạch cho mọi ông cuộc cải tổ hay cách mạng xã hội.
Để làm sáng tỏ hơn, thiết nghĩ cũng nên trở lại thời gian CSVN nỗ lực xin gia nhập vào WTO lúc trước để có t ể thấy được chân tướng của sự việc. Lúc ấy CSVN cũng đã tạo ra những màn khói mù bằng chiêu bài thiện chí trong sach hoá xã hội do nhà nước chủ xướng. Chính sự kiện này đã tạo lên những xôn sao trong Quốc Hội VC mà còn là một đề tài khôi hài đàm tiếu trong mọi tầng lớp nhân dân. Để diễn vở tuồng cho có vẻ mạch lạc khả tín, trong ngày khai mạc phiên họp Quốc Hội (25-10-2004) , Phan Văn Khải đã bày tỏ ý thức giác ngộ của Đảng bằng sự đề nghị thành lập một Cơ Quan Trung Ương Chống Tham Nhũng quy mô do Đảng điều hành, mà chính Nông Đức Mạnh sẽ là Chủ Tịch. Sự kiện này đã làm cho các phiên họp Quốc Hội cũng không kém phần ngạc nhiên, băn khoăn với vở tuồng “Gái đĩ già mồm” này. Bọn đầu nậu Bắc Bộ Phủ luôn cố gắng hoá trang vai trò gian ác, bẩn thỉu của chúng bằng hình ảnh “khuôn mặt học trò ngây thơ trong trắng” nhưng rất tiếc vẫn không thể che giấu được những “bộ giò ăn cướp”, mà đã để lộ ra một cách ấu trĩ và trơ trẽn.
Cũng trong vở tuồng chống tham nhũng đã từng diễn đi, diễn lại rất nhiều lần và nhắc nhở thường xuyên trong các phiên họp của nhiều khóa Quốc Hội CSVN, nhưng tệ nạn này không những không suy giảm mà có phần phát triển mạnh hơn rất nhiều. Nó cũng tựa như căn bệnh ung thư đã đến thời kỳ cuối cùng, vô phương cứu chữa, ngoài phương pháp duy nhất là “giải phẫu”, cắt bỏ tất cả guồng máy lãnh đạo đảng (từ cơ chế đến nhân sự) thì mới mong thay đổi được hoàn cảnh khá hơn.
Này nhân thế nên bình tâm, tỉnh trí
Bệnh trần kha, quốc sách lũ tội đồ
Trong sạch ư? Đừng lơ lửng mộng du
Chúng còn sống, đừng mong đời hạnh phúc
Tóm lại, nếu thực sự muốn chống tham nhũng, tất nhiên phải chống cái cơ chế đẻ ra tham nhũng, đất nước phải có tự do báo chí, tự do tư tưởng , tự do ngôn luận , tự do tôn giáo để tạo nên sự đối lập một cách danh chính ngôn thuận trong thế đa nguyên, đa đảng thì tự nhiên tham nhũng cũng hết đường hoành hành. Do đó hy vọng nhân cơ hội này, giới báo chí trong nước sớm giác ngộ, can đảm vùng lên trở về với lương tri của người cầm bút, thi hành đúng đắn chức năng hầu có thể đóng góp hữu hiệu trong công cuộc đi tìm tự do, hạnh phúc thực sự cho dân tộc. Sau cùng, chúng ta cũng đừng quên câu di ngôn của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu “Đừng tin những gì CS nói mà hãy nhìn KỸ những gì CS làm”.
Phạm Thanh Phương (Úc Châu)