"...trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng..."

Phạm Thanh Phương (Úc châu)

Trong mục đích tìm sự bình an cho nhân thế và phát triển hệ thống Thiên Chúa Giáo tại Việt Nam, lần đầu tiên Bộ Ngoại Giao Vatican đã chính thức đến Việt Nam bàn thảo, nhằm xúc tiến việc thiết lập một sự “quan hệ bình thường” với CSVN sau 50 năm gián đoạn. Theo bản tin từ Thông Tấn Xã Thiên Chúa Giáo cho biết, qua hai ngày hội thảo (16 và 17-2-2009), Vatican đã đưa ra nhận định, cũng có “các tiến bộ tích cực trong cuộc sống tôn giáo tại VN”. Tuy nhiên theo nhận định chung trong dư luận, câu nhận định trên chỉ mang ý nghĩa ngoại giao và cuộc hội thảo củng chỉ mới bắt đầu một sự thăm dò, chưa thể có một kết quả nào được gọi là khả quan. Hơn nữa, nhìn vào tình hình tôn giáo dưới chế độ CSVN vẫn còn rất nhiều khó khăn, trắc trở trong sinh hoạt, bởi những đàn áp, cướp bóc và trù dập từ cường quyền và rất nhiều dị biệt trong quan điểm, chủ trương, và chắc chắn khó có thể giải quyết thoả đáng trong một khoảng thời gian ngắn.

Nhìn vào thực tế, Thiên Chúa Giáo vốn dĩ mang truyền thống hoàn vũ, với một hệ thống tự trị hàng dọc, hoàn toàn tự do trong mọi sinh hoạt dù bất cứ nơi đâu trên thế giới, họ không chịu ảnh hưởng từ bất cứ thế lực nào. Ngược lại, CSVN lại muốn “quốc doanh hóa”, đặt ảnh hưởng của đảng vào những sinh hoạt tôn giáo, trực tiếp kiểm soát, điều hành như một bộ phận trong cơ chế của đảng qua hình thức Ủy Ban Tôn Giáo trực thuộc cái gọi là “Mặt trận Tổ quốc”. Từ nhiều thập niên qua, CSVN vẫn đòi hỏi được quyền duyệt xét lý lịch tu sinh và khi thụ phong các chức sắc hoặc bổ nhiệm các chức vụ trong hệ thống Thiên Chúa giáo tại VN của Vatican, phải được sự chấp thuận hay đồng thuận của đảng. Đây là một điều rất khôi hài, nó trái ngược với lẽ tự nhiên, khó có thể chấp nhận. Cũng vì thế ngay tại cuộc hội thảo vừa qua, Thứ trưởng Ngoại giao Vatican, Đức ông Pietro Parolin đã khẳng định
“Hoạt động tôn giáo không nhằm mục đích chính trị”
. Với câu nói này, đại đa số đã hiểu như là một thông điệp mang ý nghĩa nhắn nhủ, đảng CSVN không nên can thiệp vào những hoạt động trong cơ chế hay hệ thống tôn giáo. CSVN cũng không thể hình sự hoá hay chính trị hoá những hoạt động tôn giáo một cách nghịch lý như họ đòi hỏi.

Cũng từ lời tuyên bố trên của Đức ông Pietro Parolin dư luận nhận định, đây cũng là một cách bày tỏ quan điểm một cách tế nhị, nhưng cũng đã xác quyết rõ ràng rằng, sự cầu nguyện ôn hòa vừa qua tại Tổng Giáo Phận Hànội phải được xem là thuần túy tôn giáo và xã hội, đi tìm công lý và sự thật, nó không thể bị chính trị hoá như nhà cầm quyền CSVN và giới truyền thông của họ xuyên tạc cấu thành. Hơn nữa, CSVN cũng không thể xuyên tạc hành xử của đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt và đòi Vatican phải thuyên chuyển hay cách chức ngài, chỉ vì ngài đã nói lên một sự thật đau lòng qua câu nói lịch sử vào cuối năm 2008 vừa qua.

Tưởng cũng nên nhấn mạnh ở đây, theo quan niệm nhân bản, muốn có một đời sống xã hội an bình, hạnh phúc, tất nhiên công lý và sự thật phải được thể hiện trong mọi lãnh vực của xã hội. Do đó, ở đâu có bất công, gian trá, ở đó người Thiên Chúa Giáo nói riêng và các tôn giáo khác nói chung đều phải có bổn phận làm sáng tỏ, hầu có thể mang lại cho xã hội một sự thanh bình, an lạc.

Trong tất cả các nước văn minh tiến bộ trên thế giới ngày nay, hoạt động tôn giáo là một sự cần thiết không thể thiếu. Tôn giáo được hoàn toàn tự do hoạt động và phát triển, trở thành một bộ phận rất đắc lực trong việc giúp chính quyền chăm sóc đời sống tâm linh con người, đóng góp một phần lớn trong giáo dục, nâng cao đạo đức, giữ gìn kỷ cương và ổn định trật tự xã hội. Ngược lại, trong một xã hội hoàn toàn duy vật, tôn giáo bị ngăn cấm, trù dập, đời sống tâm linh sẽ khô cằn, đạo đức suy đồi và xã hội sẽ băng hoại. Tất nhiên, đời sống người dân sẽ không bao giờ tim thấy ánh sách của hạnh phúc, không khác nào đời sống của súc vật trong cái cảnh “cá chậu, chim lồng”, và đất nước không thể phát tiến bộ, phát triển.

Tuy nhiên tại Việt Nam dưới chế độ độc tài toàn trị CSVN hiện nay, tôn giáo luôn được coi là một trở ngại lớn cho chế độ. Bởi lẽ CSVN không bao giờ chủ trương mưu cầu hạnh phúc cho người dân để phát triển đất nước. Với bản chất vong nô, tàn độc, CSVN chỉ muốn nô lệ hóa con người, biến xã hội trở thành công cụ của đảng. Do đó, CSVN phải tìm đủ mọi cách khống chế, đoàn ngũ hoá tất cả các tôn giáo, hội đoàn, đoàn thể trong xã hội trở thành một hệ thống duy nhất dưới sự “quản lý” và chỉ đạo của đảng. Vì vậy, không mấy ai tỏ ra ngạc nhiên khi thấy CSVN luôn luôn tìm cách hình sự hoá, chính trị hoá tất cả những sinh hoạt dân sự bằng bạo lực một cách trắng trợn như hiện nay. Ngoài ra với lòng tham không đáy vốn dĩ, CSVN cũng khó lòng trao trả những tài sản đã cưỡng của Giáo Hội từ hơn nửa thế kỷ qua. Như vậy, một sự nhượng bộ, hoà hoãn từ phía CSVN rất khó xẩy ra để đi đến một sự “bình thường hóa quan hệ” với Vatican, ngoại trừ có một sự trao đổi đặc biệt nào đó, được thoả hiệp ngầm bên trong.

Riêng Vatican, nếu chỉ vì một quyền lợi nào đó, mà chấp nhận đáp ứng những đòi hỏi phi lý từ CSVN, tất nhiên dù vô tình hay cố ý, Vatican đã phá vỡ hệ thống tự trị mang tính hoàn vũ truyền thống của Giáo Hội và vô tình đã giúp CSVN “quốc doanh hoá” Giáo hội Công giáo Việt Nam một cách nghiệt ngã, oan ức. Và từ đó, niềm tin của tín đồ Công Giáo Việt nam đối với Vatican cũng sẽ phai nhạt dần. Từ đó, một sự phân hoá trầm trọng sẽ xuất hiện ngay trong nội bộ, giữa các tôn giáo với nhau và có thể khối Thiên Chúa Giáo sẽ bị cô lập giữa lòng dân tộc. Như thế, Thiên Chúa Giáo sẽ không thể phát triển xa hơn tại Việt Nam như Vatican mong muốn.

Tóm lại, nếu hai bên thực tâm muốn có một “quan hệ bình thường”, tất nhiên Vatican sẽ phải có một sự hoà hoãn nhượng bộ nào đó, nhưng không để khối Thiên Chúa Giáo Việt Nam bị “quốc doanh hóa” như CSVN mong muốn. Riêng về phía CSVN, các nhà lãnh đạo phải ý thức đi theo trào lưu nhân bản của nhân loại. CSVN phải từ bỏ những đòi hỏi phi lý, phải biết lắng nghe, không thể cưỡng từ, đoạt lý để hình sự hoá hay chính trị hoá những hoạt động tôn giáo nói chung và Thiên Chúa Giáo nói riêng. Phải đánh tan đi tất cả bóng tối khủng bố, bạo ngược đang bao trùm mọi mặt trong xã hội. Như vậy, tất cả mọi việc sẽ trở nên đơn giản. Từ đó, tôn giáo nói riêng và toàn dân tộc nói chung sẽ có những ngày tháng yên vui đề cùng thăng hoa đất nước. Tuy nhiên, dù sao chăng nữa, với bản chất vong nô nan di, CSVN không thể làn bất cứ điều gì trước khi Trung cộng cho phép. Vì vậy, đa số tin rằng, chỉ khi nào Trung cộng hoàn tất sự “quan hệ bình thường” với Vatican, lúc đó mới có hy vọng những “thiện chí” từ CSVN.

* Phạm Thanh Phương (Úc châu)

Phạm Thanh Phương (Úc Châu)


Trong những ngày gần đây, dư luận một lần nữa lại bàn tán xôn xao về Hồ Chí Minh, một nhân vật đại gian manh và đầy tội ác, một nhân vật đã tạo nên một vết nhơ điếm nhục nhất trong dòng lịch sử Việt Nam, và những hệ lụy từ những tội ác ấy vẫn còn tồn đọng và kéo dài lê thê cho đến hôm nay. Để đánh bóng hình ảnh của nhân vật đại gian ác này, Dương Thu Hương đã cho ra mắt tác phẩm “Au Zénith” có tựa đề Việt ngữ “Đỉnh Cao Chói Lọi” [1] với nội dung cố gắng tô son, trét phấn tạo ra những huyền thoại, biến hình ảnh một tên đại gian ác buôn dân, bán nước trở thành yêu nước thương dân. Cũng trong hiện tượng này, một số “ăn cơm Quốc gia, thờ ma CS” xuất hiện chạy theo phụ hoạ, ca tụng với những lý luận mơ hồ, nhất là trên các diễn đàn Paltalk, và cũng đã tạo ra một trận hỏa mù, tranh cãi lòng vòng, lẩn quẩn.

Nói về sự kiện này đại đa số cho rằng, đây là một chiến dịch rất lưu manh hầu như để yểm trợ cho chiến dịch bịp bợm qua chiêu bài học tập và pháp huy “tư tưởng, thân thế và sự nghiệp của HCM” đã và đang được CSVN phát động rầm rộ trong nước từ năm năm qua. Một điều nực cười một cách trơ trẽn nhất là họ đang cố gắng tô son điểm phấn, vẽ rồng, vẽ rắn lên cái xác thối tha đầy tội lỗi ấy say mê một cách vô thức. Nhưng đến khi nếu ai chặn lại, vạch rõ sự thật thì họ lại cho rằng, ”HCM chết đã lâu, không còn ảnh hưởng đến hiện tại”, và lên mặt đạo đức khuyên mọi người nên tôn trọng người đã chết, tạm cất vào quá khứ, để lịch sử sau này sẽ có những phán xét công bằng.

Qua tác phẩm “Đỉnh Cao Chói Lọi”, những người còn sáng suốt chắc chắn nh ận ra đây chỉ là một bức tranh ngụy tạo mà Dương Thu Hương cũng như một số “theo đóm ăn tàn” đang rêu rao, tô son điểm phấn, nó cũng chỉ quanh đi, quẩn lại cố gắng thêu dệt làm sao để có thể chứng minh “Bác kính yêu” của họ muôn đời trong sạch, sống có đạo đức, nhân bản. Tất cả những tội lỗi, hiếp dâm, cướp của, giết người không thể che giấu, thì đưa vào hoàn cảnh bất đắc dĩ do áp lực của đảng CSVN, không phải đó là dã tâm từ bản chất dã thú của Hồ.

Hơn nữa Dương Thu Hương lý luận, vì áp lực của đảng mà HCM không thể có được một đời sống bình thường, có gia đình, con cái đàng hoàng, nên đời sống tình dục của Hồ phải lén lút vô luân ... Nói như thế có thể hiểu tất cả tội lỗi cũng đều do đảng CSVN, cũng vì đảng mà Hồ bị lâm vào hoàn cảnh bị ức chế tâm sinh lý và trở thành một kẻ băng hoại, hoang dâm. Còn lại bản thân Hồ vẫn là một kẻ đạo đức sáng suốt, tâm hồn lúc nào vẫn trinh trắng như Kiều trong chốn Thanh Lâu ngày xưa. Tuy vậy, không thấy Dương Thu Hương và đám tay sai giải thích đảng là ai, họ chỉ nói một cách mơ hồ trong cái cảnh “lập lờ đánh lận con đen”, hướng dẫn độc giả đi vào một trận hỏa mù đầy mê lộ.

Nói về tình yêu nước của HCM, số người bênh vực cũng lý giải “vì căm thù thực dân Pháp giày xéo quê hương”, vì cứu cánh “giải phóng dân tộc”, nên “Bác” của họ phải dùng những phương tiện đốn hèn như làm tay sai cho Nga Tàu, tàn nhẫn với dân tộc.

Tuy nhiên, những đầu óc bệnh hoạn nô dịch này chỉ biết say mê nói như một cuốn băng, nhai đi, nhai lại một luận điệu cũ rích từ cả nửa thế kỷ qua, không có gì mới lạ. Họ không thể nhìn vào sự thật để tìm xem cái “tình yêu nước” đốn mạt của HCM từ đâu ra. Tất cả những dữ kiện lịch sử thế giới hầu như họ đã cố tình quên để “Đời đời nhớ ơn Bác, đảng” đã đưa dân Việt thoát ra khỏi bàn tay thực dân, để ngày nay đất biển bị cắt xén và con dân được đi làm nô lệ trên khắp thế giới.

Đọc lại lịch sử có lẽ khó ai chó thể phủ nhận, Pháp đã thua Nhật tại Việt Nam và để kết thúc đệ nhị thế chiến, Nhật đã đầu hàng đồng minh sau hai trái bom nguyên tử tại Hiroshima và Nagasaki. Vì vậy, vai trò thực dân của Nhật và Pháp không thể tồn tại tiếp tục khống chế, bóc lột thuộc địa như trước, mà bắt buộc phải quyền tự quyết cho thuộc địa. Tuy vậy, số “theo đóm ăn tàn” vẫn cố ắng rêu rao tất cả đều là “công ơn của bác” do tình yêu nước vĩ đại của “bác” mà có. Họ giả vờ quên đi sự kiện, sau khi HCM tuyên bố độc lập tháng 8 năm 1945, và qua tháng 3-1946 cũng chính HCM đã rước Pháp vào lần thứ hai qua cái gọi là “Hiệp Định Sơ Bộ”. Một hành động khác thể hiện tình yêu nước quá “nồng nàn” đến độ vào năm 1949, chính HCM phải chạy sang Liên sô, nhận lệnh giết 5% dân số miền Bắc lúc đó với tội danh “Trí, Phú, Địa, Hào” qua chiến dịch “Cải Cách Ruộng Đất”. Nói đến “Cải Cách Ruộng Đất”, nếu còn là một con người có lẽ không ai có thể phủ nhận đây là một tội ác “vô tiền, khoáng hậu” của nhân loại. Cái “vô tiền khoáng hậu” ở đây không phải chỉ là giết hàng loạt người dân vô tội một cách dã man, mà là sự đảo lộn và hủy hoại cả một nền tảng văn hóa, đạo đức của dân tộc. Chính HCM đã dùng bạo lực để ép những người dân hiền lành, mộc mạc trở thành những con dã thú một cách bất đác dĩ. HCM đã ép người dân đến cùng cực, để chỉ vì bản năng sinh tồn, họ phải đảo cả lộn luân thường, đạo lý qua những cảnh tượng khủng khiếp con giết cha, vợ giết chồng, cháu giết ông bà. Như vậy, thử hỏi cái tình yêu nước của HCM là cái gì... Phải chăng là sự khát máu từ một bản chất dã thú vong nô.

Nói về sự kiện đảo lộn lịch sử một cách trơ trẽn này, đa số cho rằng những con người đã được nuôi dưỡng, nhồi sọ bởi chế độ CS họ không thể chấp nhận sự thật là vì mặc cảm, mặc cảm chính bản thân và gia đình họ đã đi theo một tập đoàn dã thú, và đôi khi chính bàn tay họ cũng trực tiếp hay gián tiếp đã nhúng đấy máu của dân tộc. Điều đáng nói ở đây là nếu dùng cái mặc cảm để biện minh thì ngược lại càng chứng tỏ cái ngu dốt của chính họ, bởi họ đã quên rằng con sông có khúc cong, khúc thẳng, con người có lúc tỉnh lúc mê. Điều đáng qúy là những người đã tỉnh trí thoát ra từ mê lộ để tìm ra ánh sáng chân lý của nhân bản, như vậy phải chăng những con người này chưa thực sự thoát khỏi cái mê lộ mà họ đã từng đắm chìm, mà vẫn u mê tiếp tục cho đến hôm nay.

Tuy nhiên, cái khó hiểu hơn nữa là những con người không nằm trong qũy đạo của CS, họ là những người được sống và đào tạo trong những môi trường nhân bản, dựa trên nền tảng văn hoá, đạo dức truyền thống của dân tộc, nhưng họ vẫn cố gắng gói kín lương tri, tiếp tay tung hô tên tội đồ HCM một cách máy móc như một vài hiện tượng xẩy ra rải rác khắp nơi hiện nay. Thậm chí họ còn vô liêm sỉ đến độ dám vỗ ngực xưng tên là những “sỹ quan” VNCH mới thật là quái đản. Không hiểu thành phần này có phải sỹ quan VNCH thật không, hay đây chỉ là một sự tiếm danh và nếu là thật thì chắc chắn cũng chỉ là loại nằm vùng, tay sai “theo đóm ăn tàn”, không thể khác.

Xuyên qua một số sự kiện như tác phẩm ”Đỉnh Cao Chói Lọi” của Dương Thu Hương và một số lý luận khác rải rách trên các diễn đàn Internet, có lẽ chúng ta cũng rút ra được một ít kết luận dù không lấy gì gọi là hoàn hảo, đó là bất cứ một con người CS nào hay chỉ mới nhiễm trùng CS đều mang một đặc tính như nhau, lương tri đã bị ung thối và tâm hồn cũng đã bị khánh kiệt.

Tóm lại, những sự kiện tung hô HCM đang xẩy ra chung quanh chúng ta chính là một chiến dịch do CSVN tung ra. Chiến dịch này không ngoài mục đích tuyên truyền đầu độc giới trẻ, những người sinh sau, đẻ muộn thiếu phương tiện để am tường lịch sử. Đồng thời gây ra những trận hỏa mù, nhiễu loạn nhân tâm, mong giảm thiểu tối đa ngọn lửa đấu tranh của cộng đồng người Việt tỵ nạn nói riêng và toàn dân tộc nói chung. Chúng ta nên cảnh giác.

• Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

[1] Dương Thu Hương, 2007, Đỉnh cao Chói Lọi, http://www.megaupload.com/?d=L80PG2N8

Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

Theo nhiều tin tức và thống kê cho biết, trong những năm gần đây, số lượng xử dụng nhôm trên trế giới đã tăng vọt lên gấp bốn lần với các thập niên trước, và Bauxite là một loại khoáng sản dùng tinh luyện nhôm, đang được ưa chuộng trên thế giới. Tuy nhiên khi khai thác loại khoáng sản này, nếu không tính kỹ và đủ điều kiện kỹ thuật an toàn, tất nhiên sẽ để lại một hậu quả tai hại cho môi trường và có thể nguy hại đến nhân mạng trong đường dài. Do đó, một số Quốc gia tiền tiến trên thế giới không muốn khai thác, mặc dù trữ lượng Bauxite có rất nhiều trên quốc gia của họ. Cũng trong vấn đề này, sự kiện Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng CSVN đã quyết định cho phép Nga và Trung Cộng vào khái thác khoáng sản Bauxite tại vùng Tây Nguyên đang tạo ra một làn sóng dư luận trong và ngoài nước, tỏ ra rất lo ngại và bàn tán xôn xao.

Theo dõi sự kiện, đa số nhận định từ những chuyên gia khoa học và kinh tế cho biết, thực sự nhôm tại Việt Nam không phải là một nhu cầu cần thiết đến độ cần phải khai thác một cách điên cuồng, không tính toán đến hậu qủa. Hơn nữa, trữ lượng Bauxite tại Tây Nguyên cũng không nhiều đến nỗi phải chấp nhận hy sinh những lãnh vực khác và nguy hiểm đến cả đời sống của người dân. Ngoài ra, những chuyên gia cũng cho biết, nếu khai thác Bauxite tại Tây Nguyên, tất nhiên phải phá huỷ một vùng đất rất lớn, trong khi tình trạng đất tại Việt Nam hiện nay rất khan hiếm không đủ cung ứng cho cư dân cư trú và canh tác. Một yếu tố khác khá quan trọng mà các chuyên gia tỏ ra rất lo ngại, là Bauxite là một loại kháng sản để luyện nhôm, cứ 4 tấn bauxite sẽ luyên được một tấn nhôm còn lại 3 tấn chất thải mang dầy độc tính sẽ làm ô nhiễm không gian và đất. Một khi chất thải đã thấm vào đất, muốn xử dụng lại đề trồng trọt ít nhất cũng phải mất vài chục năm để hoang. Hơn nữa, khi khai thác bauxite, số cây rừng để hút khí độc trong không gian và ngăn nước lũ tràn xuống đồng bằng sẽ không còn, tất nhiên nguy cơ ô nhiễm môi sinh và ngập lụt nơi đồng bằng sẽ gia tăng nhiều hơn.

Nói về sự tác hại của bauxite, Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng cho biết,
"Bùn đỏ chứa 70% nước và 30% chất thải quặng thì rất nguy hại về môi trường, vì 70% còn lại chất NAOH, tức là xút." [1]
, nếu lượng nước và chất thải này không có chỗ tiêu hủy, tất nhiên sẽ tràn xuống đồng bằng, ô nhiễm sông ngòi và đất đai. Từ đó, đời sống người dân Việt đã nghèo khó lại thêm bệnh hoạn, như vậy đất nước sẽ đi về đâu? Đây là một vấn đề tác hại rất to lớn mà CSVN đã có một quyết định có thể nói là rất ngu xuẩn chỉ vì lòng tham và bản chất vong nô không dám làm trái ý đàn anh Nga, Tàu là những nước đang khan hiếm nhôm. Ngoài ra, một số nguồn tin cho biết, tại Nga, Tầu cũng có rất nhiều quặng bauxite, nhưng họ không muốn khai thác chỉ vì sự tác hại của nó, khi không đủ phương tiện tiêu hủy chất thải để vô hiệu hoá những độc tố trong không gian hay trên mặt đất và nguồn nước từ sông ngòi. Vì vậy, tại sao Nga Tầu đã tỏ ra rất “Hồ hởi, phấn khởi” với những quặng bauxite tại Tây nguyên Việt Nam.

Một câu hỏi lớn được đặt ra ở đây là, sự khai thác này có lợi gì cho quốc gia dân tộc, hay chỉ làm lợi cho ngoại bang và một thiểu số cầm quyền CSVN? Theo đa số nhận định, dưới chế độ tham nhũng, bóc lột của CSVN, chắc chắn lợi điểm đầu tiên là “quan thầy” Nga, Tầu, họ giải quyết được phần nào sự khan hiếm nhôm tại quốc gia của họ. Kế đến là đám lãnh đạo CSVN có dịp lươn lẹo, tham nhũng làm giàu. Còn lại người dân sẽ lại bị mất nhà, mất đất và về thời gian lâu dài sẽ phải chịu những độc chất đi dần vào cơ thể qua thực phẩm và môi sinh để sinh ra bệnh hoạn, kể cả hiện tượng quái thai sẽ xuất hiện nhiều trong tương lai. Lúc đó CSVN lại được dịp công bố đó là sự tác hại di truyền từ “chất độc màu da cam” để lại sau chiến tranh.

Liên quan vấn đề, theo RFA (9.2.2009) cho biết, thực sự vấn đề thác bauxite đã có từ đầu năm 2007, chính Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số 167 với nội dung
"phê duyệt quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007 đến 2015”.[2]
Tiếp đến là những chuyến đi Nga, Trung cộng của đám lãnh đạo CSVN, nhằm xúc tiến việc ký kết khai thác bauxite. Tuy nhiên tất cả đều không được công bố cho toàn dân, kể cả tiến trình khai thác, và cũng không thấy nói gì đến vai trò của Quốc Hội CSVN trong vấn đề này. Như vậy, dưới con mắt CSVN, quốc gia, dân tộc kể cả Quốc hội có một giá trị gì hay không? Sự quyết định khai thác bauxite này rất nghiêm trọng, nó ảnh hưởng rất nhiều đến đất nước trong nhiều mặt. Và cho đến nay, sự kiện đã làm xôn xao cả nước, nhưng Quốc hội cũng vẫn giữ một thái độ im lặng. Như vậy, Quốc hội CSVN là cái gì ? Phải chăng chỉ là những con rối, dùng trang trí cho thêm phần màu sắc của đảng CSVN.

Với những sự kiện nêu trên, có lẽ tất cả mọi người Việt Nam kể cả trong và ngoài nước, có thêm một vài yếu tố để có một cái nhìn chính xác hơn về bản chất CSVN. Đối với cái nhìn của CSVN, không có gì quý hơn những cơ hội làm giàu cho bản thân và làm hài lòng những quan thầy của họ như Nga, Tàu. Còn lại những chữ Quốc gia, dân tộc có chăng chỉ là những bình phong che đậy những thủ đoạn tham lam và đớn hèn của bản chất. Như vậy, những ai cho rằng con người CS cũng yêu nước, thương dân, chỉ là những kẻ ngu xuẩn đang làm con rối, tuyên truyền không công cho đám hình người dạ thú CSVN mà thôi. Và đây cũng là câu trả lời là tại sao người dân hải ngoại không ủng hộ đường lối canh tân của đảng Việt Tân, mà ngược lại đa số lại chống đối, tẩy chay.

Tóm lại, với tất cả kinh nghiệm xương máu của người dân Việt dưới chế độ CSVN từ hơn nửa thế kỷ qua đối với miền Bắc và hơn 30 năm qua đối với miền Nam, có lẽ chẳng ai còn có thể lầm cái tình “yêu nước, thương dân” đốn mạt của CSVN, ngoại trừ một số thành phần chỉ vì những danh lợi cá nhân, cam tâm bóp chết lương tri, cúi lưng, cong lưỡi ngụy biện tung hô, hoặc một vài nhóm đang lợi dụng danh nghĩa VNCH, nhi nhô quấy rối, tạo nhiễu loạn, để tất cả người dân thiếu cảnh giác với những việc quan trọng có hại đến Quốc gia, dân tộc mà CSVN đang thực hiện. Vì thế, trong cộng cuộc đấu tranh tìm tự do, dân chủ cho Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn với những trận hỏa mù do CS và thành phần tay sai tung ra. Mong rằng tất cả nên người bĩnh tĩnh, sang suốt nhận định, cố gắng mọi nỗ lực, hầu có thể nhanh chóng đạt thành sở nguyện.

Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

Tài liệu tham khảo:
[1]
Thiện Giao, phóng viên RFA, 2008 Vụ bô-xít: Ai đã quyết, và Ai sẽ phủ quyết?
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/bloggers-with-the-government-decision-of-exploring-bauxite-TGiao-02112009161003.html

[2] Quyết định 167/2007/QĐ-TTg ban hành ngày 01/11/2007 Phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxit giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025.
www.moi.gov.vn/LDocument/Upload/2007111310501594999330.doc

-Phạm Thanh Phương-


(Tản Mạn)


Từ lâu, không biết từ bao giờ, Trâu đã trở thành một loại gia súc rất thân thương trong đời sống nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng. Trâu là một hình ảnh rất gần gũi với đời sống xã hội, nhất là những quốc gia nông nghiệp như VN chúng ta.

Cũng như những con vật khác, đầu tiên Trâu sống nơi hoang dã trong những khu rừng nhiệt đới như Pakistan, Ấn Độ, Bangladesh, Nepal, Bhutan, Thái Lan, Việt Nam và cả miền Bắc của nước Úc. Tuy vậy, cũng không ai xác định được từ lúc nào Trâu đã được thuần hóa để trở thành một loại gia súc phục vụ cho đời sống loài người.

Nói về Trâu có hai loại trắng và đen, Trâu là một loại tuy chậm chạp nhưng rất khỏe, da dầy không có tuyến mồ hôi nên rất dai sức. Trọng lượng trung bình của Trâu thường từ 250kg đến 500kg, có cặp sừng rất dài và rất khỏe dùng để tự vệ khi bị tấn công. Tuy nhiên, có lẽ trong điều kiện đã thuần thục sống chung với loài người, Trâu nhà trở nên nhỏ hơn so với Trâu rừng trong điều kiện hoang dã. Theo nhiều tài liệu cho biết, một con trâu rừng to và khỏe gấp đôi trâu nhà, hoạt động nhanh nhẹn hơn và nặng từ 800kg cho Trâu cái và 1200kg cho Trâu đực.

Ngoài ra, người ta còn tìm thấy dấu tích của một loại Trâu tí hon trên đảo Cebu (Phi Luật Tân), sau khi khảo sát 2 cái răng và 2 đốt xương sống đã tìm được, các khoa học gia xác quyết, đây là một loại trâu tí hon đã tuyệt chủng cách đây cả chục ngàn năm và đặt cho nó một cái tên khoa học là Bubalus cebuensis. Các khoa học gia cũng phỏng đoán lại Trâu này có chiều cao khoảng 75cm và nặng chừng 150kg. Hiện nay những di tích này đang được trưng bày tại viện bảo tàng “Field Museum” Chicago, Hoa Kỳ. Cũng tại phi Luật Tân, trên đảo Mindoro người ta cũng thấy có loại Trâu nước nhỏ con, cao chừng 90cm và nặng chùng 270kg và có tên khoa học là Bubalus mindorensis. Tuy thế loại này vẫn lớn hơn lại trâu tí hon Bubalus cebuensis rất nhiều.

Nói về đời sống của Trâu, Trâu sinh nở mỗi năm một lần và mỗi lần chỉ một con, thông thường thì loài Trâu mang thai mười hai tháng mới sanh, khi trâu còn bé được gọi là nghé khi trưởng thành mới được gọi là Trâu..... Thực phẩm chính của Trâu là cỏ, nhưng khi thiếu cỏ trâu cũng sống được với những bó rơm khô, trâu có răng rất to nhưng không bén nhọn như loài thú khác và lúc nào cũng nhai, vì trong cơ thể có bao tử phụ đễ dự trữ thức ăn, vì thế miệng trâu lúc nào cũng hoạt động lép nhép mà người ta gọi là loài nhai lại.

Vào thời gian trước đây khi văn minh cơ khí chưa phát triển, tại những quốc gia nông nghiệp, Trâu giữ vai trò lao động chính trong xã hội. Ngoài ra, Trâu còn là nguồn cung cấp thực phẩm như sữõa trâu, thịt trâu, đến cả bao tử trâu, da trâu cũng đều hữu dụng. Người ta dùng da Trâu trong nhiều việc như làm giầy, dép, dây kéo cày, v,v.... Riêng bao tử trâu dùng đựng nước, rượu rất tốt và rất bền với một dung tích có thể hơn 20 lít.

Với một sức khỏe bền bỉ, ngoài việc cày ruộng, Trâu còn dùng để kéo xe, tuy chậm chạp nhưng có thể di chuyển được cả tấn hàng hóa trên một đoạn dường dài. Ấn Độ là quốc gia nuôi nhiều Trâu nhất thế giới, vì một số rất đông người Ấn coi bò như là một linh vật, vì thế ngoài lãnh việc dùng sức lao động của Trâu, người ta cũng cần dùng một số lượng lớn sữa và thịt trâu trong đời sống xã hội hàng ngày.

Riêng tại VN cũng là một nước nông nghiệp, vì thế nói đến Trâu, người ta thường hình dung ra nột hình ảnh cần mẫn, chiïu đựng và khoẻ mạnh, không thể thiếu trong lãnh vựïc phát triển đời sống kinh tế trước khi văn minh cơ khí xuất hiện ồ ạt. Do đó, hình ảnh Trâu rất thân thương đã gắn liền trong xã hội và ngay cả trong văn học.

Để nói về sự lợi ích của trâu, tục ngữ có câu “Ruộng sâu, trâu nái, con gái đầu lòng” hoặc “Con Trâu là đầu cơ nghịêp”. Nói về nếp sống thanh bình nơi thôn dã, người ta thường nói đến cảnh trẻ em bé ngồi trên lưng trâu thả diều với tiếng sáo vu vu trên bầu trời trong xanh thanh bình, hay những cuộc vui như tắm trâu, trọi trâu,v,v..

Trong đời sống nông thôn VN, trâu là một con vật rất thân thương và cũng chia sẻ nhưng khó nhọc, hưng suy của đời sống xã hội qua bài ca dao:

“Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây, Trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ cây lúa trổ bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”

Mặc dù ai cũng biết Trâu và Ngựa là loại gia súc hữu ích và rất gần gũi nhất với đời sống nhân loại nói chung và VN nói riêng, nhưng không hiểu tại sao trong ngôn ngữ VN lại tỏ ra miệt thị hai loại gia súc này một cách rất thậm tệ, chẳng hiểu như thế có bất công lắm không ? Người ta đã dùng Trâu để ví von nhiều sự việc hay hiện tượng xấu như: Để chỉ một người chậm hiểu, ngờ nghệch người ta ví “ngu như trâu” hay “đàn gẫy tai trâu”, với một người nói hoài không chịu nghe thì lại ví “Lì như trâu”, nói đến loại người côn đồ, lưu manh như dám CS thì họ lại gọi là bọn “đầu trâu, mặt ngựa”, hoặc bọn tay sai vô liêm sỉ chỉ biết sống vị kỷ cong lưng làm “thân trâu ngựa” cho CS để có những hành xử trái khoáy “đâm sau lưng chiên sĩ” như chúng ta đã từng thấy trong mặt trận đấu tranh chung tại hải ngoại. Khi nói đến một hoàn cảnh đòi sống khó khăn gấp khúc, không có lối thoái, người ta chán nản buông xuôi và tự an ủi “Mài sừng cho lắm cũng là trâu”. Ngay trong một vài động vật khác cũng có tên như “ruồi trâu, cá lưỡi trâu”,v,v.... Ví sự khỏe mạnh “khỏe như trâu”, chỉ sự vất vả “làm như trâu”. Nói về sức khoẻ của phái nữ trong cái tuổi trăng tròn lẻ “Gái mười bảy, bẻ gẫy sừng trâu”, v.v. Trong dân gian những phụ nữ mang thai quá thời gian bình thường 11 hay 12 tháng mới sanh được gọi là “chửa trâu”. Ngoài ra trâu còn được dùng chỉ một hiện tượng “già không nên nết” như hiện tượng các bác “Việt kiều’ lợi dụng sự khốn khổ của dân mình dưới ách CS, về VN lợi dụng thân xác gái tơ, người ta thường nói “trâu già thích gặm cỏ non”. Riêng sự kiện này thì theo nghĩa đen thấy có cái gì đó không ổn. Một số người lý luận, trâu già sức khỏe kém, hàm răng đã rệu rạo rồi, thì làm sao có thể nhai rơm hay cỏ già, vì vậy nếu trâu già mà thích gặïm cỏ non cũng là chuyện bình thường hợp lý thôi, đâu có gì phải than phiền, phải không qúy vị.

Các tục lệ ngày lễ về trâu:

Lễ trọi trâu

Trở lại hình ảnh con trâu trong văn hóa VN, một vài nơi có tục lệ “chọi trâu” như tại Đồ Sơn miền Bắc VN. Tục lệ “chọi trâu” không biết xuất phát từ bao giờ nhưng tại Đồ Sơn có câu ca dao:

"Dù ai buôn đâu, bán đâu
Mồng chín tháng tám chọi trâu thì về
Dù ai bận rộn trăm bề
Mồng chín tháng tám nhớ về chọi trâu"

Tục lệ “chọi trâu” tại Đồ Sơn không đơn thuần chỉ vui chơi mà còn mang tính thiêng liêng trong đời sống tâm linh của người dân. Theo nhiều sự tìm hiểu cho biết, lễ “chọi trâu” còn mang ý nghĩa tưởng nhớ đến công ơn của các vị thần, duy trì kỷ cương làng xã, cầu nguyện cho sự hưng thịnh của địa phương với “mưa thuận, gió hòa”.

Lễ cúng vía trâu

Mốt số làng người Mường, Thái còn có tục lệ “cúng vía trâu” vào dịp tết của họ. Lễ được tổ chức vào ngày 14-7 âm lịch, thời gian này tất cả công việc đồng áng đã hoàn tất, trâu và người đều được nghỉ ngơi dưỡng sức chuẩn bị cho mùa tới. Ở đây cúng vía trâu để tạ ơn thần linh đã giúp họ làm ăn trong năm qua. Trâu đối với đời sống thôn dãõ rất quan trọng bởi sự vất vả của trâu đã giúp người quá nhiều, sự vất vả ấy cũng hòa đồng và gắn liền với sự vất vả của nông dân, do đó “cúng vía trâu” còn mang ý nghĩa như một sự tạ ơn và cảm thông.

Lễ đâm trâu

Theo tục của dân Ba Na, Gia Rai, Xơ Đăng, hàng năm dân làng tổ chức một lần hội đâm trâu rất lớn vào đầu tháng chạp âm lịch. Lễ đâm trâu này mang ý nghĩa tưởng nhớ công ơn tổ tiên đã xây dựng và giữ gìn làng mạc. Ngoài ra cũng có những lễ đâm trâu nhỏ để cúng thần linh, cầu an khi người ta bị bệnh hay tai nạn bất ngờ. Đây là những cổ tục, nhưng vẫn còn duy trì đến ngày nay.

Tóm lại, trâu là một con vật rất thân thương, không thể thiếu trong xã hội loài người, nhất là những quốc gia nông nghiệp như Việt Nam, vì vậy hình ảnh con trâu cũng từ đó đã đi sâu trong vào đời sống và văn hóa dân tộc Việt. Trong ngày tết người ta cũng thường bày bán những bức tranh một em bé ngồi thổi sáo trên lưng trâu để chỉ sự thanh bình, hồn nhiên, nhàn hạ. Nhưng những hình ảnh đơn sơ ấy, giờ đây lại là một sự kháo khát mỏi mòn của toàn dân Việt dưới chế độ CSVN. Tuy hình ảnh này rất tầm thường, đơn sơ và mộc mạc, nhưng ngày nay hầu như đã biến mất trên quê hương Việt Nam, bởi lẽ dưới chế độ CS, số trâu cũng bớt rất nhiều và con người đã thay thế hình ảnh con trâu trên những cánh đồng khô, cỏ cháy. Hơn nữa, số ruộng đất cũng đã thu hẹp quá nhiều và tập trung trong tay nhà nước, không còn những tiếng sáo vi vu trên lưng trâu, hoặc những tiếng vui đùa của trai gái làng cùng con trâu trên đồng ruộng. Ngược lại, người ta chỉ nghe được những tiếng kêu gào, than khóc tức tưởi của từng đoàn người lang thang “khiếu kiện” đòi nhà đòi ruộng của tầng lớp nông dân, tận cùng khốn khổ của loài người. Đây cũng chính là tuyệt tác ưu việt của cái gọi là “thiên đường XHCN” vậy.

Sau cùng, người viết cũng xin xác định, đây chỉ là một bài viết mang tính tản mạn, mong có thể chia sẻ cùng độc giả một ít kiến thức và tâm tư trong dịp xuân về, tất cả dữ kiện được sưu tầm, lượn lặt từ nhiều nơi. Do đó, chắc chắn có rất nhiều sai sót. Kính mong quý độc giả thứ lỗi và kính chúc qúy độc giả một mùa xuân con Trâu an khang, thịnh vượng. Hy vọng bững hình ảnh thân thương tiếng sáo thanh bình của trẻ em trên lưng trâu sẽ sớm trở về trên quê hương, hầu giải thoát những cơ cực, đầy máu và nước mắt do CSVN tạo ra từ trên nửa thế kỷ nay.

* Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

-Phạm Thanh Phương-

Tâm lý chung trong cuộc sống, người ta thường áp dụng câu tục ngữ “Xấu che-Tốt khoe”. Tuy nhiên cũng tùy việc mà khoe hay che, có những cái xấu thậm tệ, nguy hiểm, càng che càng tạo ra nhiều tai họa cho chính bản thân và cho cả tha nhân. Những cái xấu ấy không thể che mà phải chấp nhận đối diện sự thật để sửa chữa, thay đổi như tình trạng tham nhũng, bóc lột, đàn áp, khủng bố tại Việt Nam dưới chế độ độc tài toàn trị của CS, hoặc cái tinh thần và hành xử vong nô, tàn dân hại nước,v,v.... Từ những cái xấu ấy, nếu cứ cố gắng dùng những thủ đoạn lưu manh che đậy thì chẳng những không che được, mà ngược lại nó lại càng lộ rõ cái xấu xa, tội lỗi một cách thô thiển để trở thành tấm bia đàm tiếu cho thiên hạ phỉ nhổ, chê cười.

Cũng trong vấn đề này, xuyên qua bài diễn văn nhậm chức cuả Tân Tổng thống Hoa Kỳ Barrack Obama vừa qua, đại đa số người dân Việt trên khắp thế giới đã nhìn thấy cái “Xấu che” một cách thô thiển, ấu trĩ, mang tính lưu manh của giới truyền thông CSVN. Trong sự kiện này, dù bất cứ lý do gì, dốt nát hay mặc cảm, CSVN cũng đã để lộ cho thấy cái bản chất lưu manh, cố hữu không kề thay đổi, mặc dù đang sống trong một thế giới văn minh tiến bộ hôm nay. Hơn nữa, sự cắt xén của CSVN cũng bạch hóa được cái bản chất vong nô, hèn nhược như một con chó chỉ biết vẫy đuôi theo ông chủ. Điều này đã quá rõ ràng khi truyền thông Trung Cộng cắt xén, ăn bớt bài diễn văn của Tổng thống Obama, tất nhiên CSVN sẽ tự động phải chạy theo như một hiện tượng của vô thức.

Nhìn lại bài diễn văn của TT Obama, có lẽ không ai có thể phủ nhận những tế nhị tuyệt hảo, trong sáng nhưng quả quyết và đầy đủ ý nghĩa trong thực tế. Tuy vậy khi chuyển dịch sang Việt ngữ, truyền thông CSVN đã cố cắt xén một cách rất ấu trĩ và bỉ ổi, đáng lẽ không thể xẩy ra bất cứ nơi đâu trên thế giới, nhất là lại xẩy ra trong giới truyền thông. Sự cắt xén này không những chỉ thể hiện lòng bất kính đối với một vị lãnh đạo quốc gia một cường quốc mà còn tự phỉ nhổ lên cái liêm sỉ của họ và luôn cả nền tảng văn hóa của dân tộc. Đây là một điều nhục quốc thể mà chỉ có những chế độ và con người CS mới đủ can đảm thực hiện.

Theo bản dịch của Vietnamnet (<http://vietnamnet.vn/thegioi/2009/01/824988>), bài diễn văn nhậm chức của Tổng thống Obama nguyên văn:

Recall that earlier generations faced down fascism and communism not just with missiles and tanks, but with sturdy alliances and enduring convictions’.

Tạm dịch:

“Xin qúy vị nhớ cho rằng, những thế hệ trước đã đương đầu với chủ nghĩa phát-xit và chủ nghĩa Cộng Sản không chỉ bằng phi đạn và xe tăng, mà bằng cả những mối quan hệ đồng minh vững chắc và những niềm tin qủa quyết”...

Tuy nhiên, trong đoạn văn này, Vietnamnet đã cắt bỏ nhóm chữ “Chủ Nghĩa Cộng sản” khi chuyển dịch. Như vậy, thì thử hỏi danh dự và liêm sỉ đã để nơi đâu?

Một điều đáng nói là tại sao CSVN lại sợ nhắc đến “Chủ Nghĩa CS” phải chăng đây chính là một điều xấu xa cần phải che đậy. Cái ngu xuẩn của CSVN là sự cắt xén này đã không làm cho người ta có thể nghĩ tốt về CS, mà ngược lại chỉ làm tăng thêm cái mặc cảm tự ti và bạch hóa được bản chất lươn lẹo đốn mạt của những con người CS không bao giờ thay đổi dù đang được cả thế giới giáo hoá.

Một câu hỏi được đặt ra ở đây là, nếu những con người CS đã biết cái chủ nghĩa thổ tả ấy là tập trung tất cả những điều xấu xa, băng hoại, nó chỉ có thể đem lai cho loài người những khổ ải đầy máu và nước mắt, thì tại sao cứ phải ngu xuẩn ôm ấp mãi làm gì? Hay sự cắt xén này chỉ đơn thuần xuất phát từ bản chất vong nô, chỉ biết chạy theo quan thầy Trung Cộng trong vô thức.

Cũng trong sự kiện này đa số thắc mắc, dù sao cũng là con người, tại sao CSVN không đủ can đảm đối diện sự thật, can đảm vất nó vào thùng rác của lịch sử những các nước Đông Âu đã thực hiện. Như vậy thử hỏi có phải những con người CSVN ngu đần và hèn hạ lắm không? Chẳng những ngu đần, hèn hạ, mà còn trơ trẽn, trâng tráo, bịp bợm một cách rất thô thiển, ấu trĩ ngoài sự tưởng tượng của nhân loại, trong cái trò hề “Dùng vải thưa để che mắt thánh” vậy.

Ở một đoạn khác trong bài diễn văn của Tổng thống Obama nguyên văn:

“To those who cling to power through corruption and deceit and the silencing of dissent, know that you are on the wrong side of history; but that we will extend a hand if you are willing to unclench your fist.”.

Tạm dịch:

“Đối với những ai bám víu vào quyền lực bằng tham nhũng, gian trá và bằng cách bịt miệng đàn áp những người bất đồng chính kiến, hãy biết rằng quý vị đang đi ngược trào lưu của lịch sử. Nhưng chúng tôi sẵn sàng đưa tay giúp đỡ, nếu quý vị sẵn sàng từ bỏ bạo lực”.

Trong đoạn này Tổng thống Obama không hề nhắc đến bất cứ quốc gia nào hay tập đoàn nào. Tuy nhiên, có lẽ vì “có tật, giật mình” nên CSVN ra chỉ thị phải cắt bớt chữ “deceit”, bởi lẽ chữ này mang ý nghĩa bịp bợm mà lại là bản chất của con người và chế độ CSVN. Chính vì thế đa số cũng cho rằng, có lẽ CSVN nhận thấy, nếu để nguyên chữ “deceit”, là vô hình trung đã làm nổi bật nét đặc thù của họ. Rất tiếc CSVN lại che đậy một cách quá thô thiển, nên thay vì che đậy thì ngược lại, họ lại làm sáng tỏ cái bản chất bịp bợm ấy một cách rõ nét hơn.

Với bản chất gian manh cố hữu, CSVN chỉ cần bịp mà không biết những sự kiện qúa rõ ràng không thể bịp. Việc ấu trĩ và khôi hài hơn nữa trong một đoạn khác Tổng Thống Obama nói:

“For us, they fought and died, in places like Concord and Gettysburg; Normandy and Khe Sanh”.

Tạm dịch:

”đối với chúng ta, họ đã chiến đấu và hy sinh ở những nơi như Concord và Gettysburg; Normandy và Khe Sanh”.

Thực ra đoạn văn này, Tổng thống Obama không ám chỉ bất cứ việc gì, chỉ đơn thuần nhắc đến một vài địa danh mà người lính Mỹ đã từng chiến đấu hào hùng và hy sinh. Tổng thống Obama nói đến những địa danh ấy không ngoài mục đích nhắc nhở người dân Mỹ không thể quên công ơn của những người đã đóng góp xương máu trên dòng lịch sử lập quốc, kiến quốc và tạo nên một nước Mỹ hùng mạnh như hôm nay.

Thiết nghĩ câu nói trên chỉ mang một ý nghĩa rất đơn thuần “Ăn quả, nhớ kẻ trồng cây”. Nhưng vì “có tật, giật mình” nên CSVN cảm thấy như một sự ám chỉ đến những tội lỗi đốn mạt của họ, vì vậy họ phải cắt xén khi chuyển dịch.

Riêng trong đoạn này, một số người cho rằng khi nhắc đến địa danh Khe Sanh là nhắc đến sự thất bại đau buồn, nhục nhã của CSVN tại nơi đó. Tuy nhiên, lý luận này thiếu phần thuyết phục, bởi trong chiến tranh sự thành bại không phải là vấn đề nhục nhã để phải quay quắt, mặc cảm né tránh. Thí dụ như người Pháp vẫn nhắc đến trận Điện Biên Phủ, cộng đồng người Việt hải ngoại vẫn làm lễ kỷ niệm trận chiến Hoàng Sa năm 1974 và ngày đen tối nhất của đất nước 30-4-1975. Cái quan trọng là sự thành bại ấy được mang ý nghĩa như thế nào. Riêng người Việt hải ngoại nhắc đến sự chiến bại của trận chiến Hoàng Sa là để vinh danh chính nghĩa của những anh hùng vị quốc vong thân, không hèn nhược cắt đất biển cho ngoại bang như CSVN đã thực hiện. Ngoài ra, sự tưởng niệm ngày 30-4-1975 là để phơi bày cái lưu manh, tàn ác, đốn mạt của CSVN. Ngược lại khi CSVN nhắc đến Khe Sanh, là vô hình trung nhắc đến sự vong nô hèn nhược của chế độ và con người CS. Điều này cũng chẳng che giấu được ai, và ngay tự chính bản thân họ cũng biết, trong cuộc chiến Việt Nam 1954-1975, CS Bắc Việt chỉ là tên tay sai, làm theo lệnh CS quốc tế. Hơn nữa, cái đau đớn nhất và tội lỗi nhất của CSVN là chỉ vì bản chất vong nô hèn nhược, nên đã coi thường xương máu hàng triệu thanh niên vô tội miền Bắc, dùng xương máu dân tộc mình để phụng sự mưu đồ bất chính của ngoại bang. Đây cũng chính là một trong những vết nhơ của lịch sử không bao giờ phai nhạt trong lòng dân tộc, mà CSVN cần che giấu. .

Xuyên qua một vài sự kiện nêu trên, có lẽ đã làm sáng tỏ thêm cho một chân lý bất khả di là CS lúc nào cũng là CS, họ chỉ biết bịp bợm và xử dụng bịp bợm như “kinh nhật tụng” trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù cho những sự việc đã qúa rõ ràng, tất cả thế giới đều biết. Do đó, những ai kêu gọi đối thoại phải trái với CSVN hầu có thể “cảm hoá” hay “giác ngộ” hầu cùng bắt tay cùng “canh tân” đất nước đều là những điều không tưởng. Hay có thể nói chính xác hơn, đó cũng chỉ là những bịp bợm trong những ý đồ nào đó không trong sáng, hoặc cũng chỉ là một “loài tương cận” với CSVN.

* Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

Thấm thoát một năm lại qua đi như “bóng câu qua sổ”. Nhẩm tính lại sự đời trong một năm qua với những vui buồn lẫn lộn, rất tiếc chuyện vui thì ít, chuyện buồn lại quá nhiều, chợt ẩn, chợt hiện, những bóng người thấp thoáng trong một trận khói mù bất tận.

Tại hải ngoại, vào đúng dịp tết Mậu Tý, Nhật báo Người Việt đã đón xuân bằng bài viết “Mẹ chồng tôi” của Trần Thủy Châu, kèm theo tấm hình Lá cờ Vàng trong châu rửa chân, đã gây ra một sự phẫn nộ và tạo nên một sự tranh cãi, chống đối kịch liệt từ cộng đồng người Việt tỵ nạn, cuốn hút rất nhiều người lãng phí rất nhiều thời gian. Khi đưa ra hiện tượng này, thiết nghĩ Nhật Báo Người Việt cũng dư hiểu, chắc chắn đại đa số người Việt tỵ nạn sẽ có phản ứng mạnh và cũng chẳng tuyên truyền gì được cho ai. Tuy nhiên, có lẽ họ chỉ muốn tạo ra những xáo trộn trong cộng đồng, không ngoài mục đích gây ra một sự phân hoá, rạn nứt tình đoàn kết, hầu có thể giảm thiểu khí thế đấu tranh chống CSVN, đòi dân chủ tự do cho quê hương trong cục diện hiện tại.

Cùng trong lúc đó, CSVN cho nổ mạnh vấn đề Hoàng Sa và Trường sa với những cuộc biểu tình của giới Thanh Niên trong nước. Đồng thời tại hải ngoại đảng Việt Tân đã hưởng ứng bằng những cuộc biểu tình lẻ tẻ, chống Trung Cộng không chống CSVN. Họ cũng khôn khéo đưa ra chiêu bài, để thể hiện tinh thần “tinh thần dân tộc” chung, nên nối kết với du học sinh và chấp nhận lá cờ máu của CSVN song song trộn lẫn với là cờ Vàng chính nghĩa của dân tộc, hoặc không mang theo cả hai trong các cuộc biểu tình, điều này đảng Việt Tân đã thực hiện tại Anh Quốc. Một bằng chứng nữa, cũng trong thời gian ấy trên đài phát thanh Tiếng Nước Tôi, tiếng nói chính thức của đảng Việt Tân, Bác sĩ Nguyện Trọng Việt, Ủy Viên Trung Ương đảng Việt Tân đã cùng Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, đã lên tiếng vận động, cổ súy cho giảp pháp “hoà hợp, hoà giải” bằng cách đi biểu tình chống trung Cộng “Không mang cờ nào cả hay cờ nào cũng được” .

Cho đến Tháng Ba 2008, một sự việc nhiễu loạn khác lại xẩy ra qua việc đặt tên một khu phố thương mại tại thành phố San José, sự việc này cũng bị phe nhóm Viện gian phá vỡ và tạo ra những nhiêu khê vất vả cho cộng đồng khu vực bảy, và đến nay vẫn chưa giải quyết xong.

Theo tin từ San José cho biết, nhân vật then chốt quấy phá trong sự kiện này chính là Hoàng Thế Dân, một đảng viên cao cấp của Việt Tân tại địa phương. Ngoài ra, dư luận cho rằng tất cả sự việc được Việt Tân chỉ đạo qua con rối Nghị viên Madison Nguyễn. Sự nhận định này cũng không phải là vô lý, võ đoán. Bởi bằng chứng cho thấy chính Hoàng Cơ Định đã đi cùng Madison đến dự một lễ Khánh Thọ của các vị cao niên tại San Francisco, và Định đã dùng vũ lực tấn công nhà văn Hoa Hoàng Lan cùng một số phụ nữ khác, khi nhóm người này lên tiếng phản đối Madison về việc Nghị Viên này đã đi ngược lại nguyện vọng của người dân địa phương, để đơn phương bãi bỏ danh xưng Little Saigon. Cũng trong sự kiện này, một nhóm người đã tìm đủ mọi cách vu khống, mạ lỵ Lý Tống khi anh tham gia và tuyệt thực để cùng đồng hương đòi hỏi nguyện vọng cùng chính đáng tại San José.

Song song với sự kiện danh xưng Little Saigon tại San José, ngày 12-3-2008. Ủy Ban Đông Á Thái Bình Dương của Quốc Hội Hoa Kỳ có một buổi tham khảo ý kiến (hearings) một số nhân vật tiêu biểu trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ do bà Nghị Sĩ Barbara Boxer làm chủ tịch. Mục đích buổi lấy ý kiến để quyết định về số phận của dự luật về Nhân Quyền cho Việt Nam HR 3096 đã được Hạ Viện biểu quyết, và đang chờ Thượng Viện thông qua. Trong buổi tham khảo ý kiến, Nghị Sĩ Jim Webb đạt một câu hỏi nội dung liên quan tình hình phân biệt đối xử đối của CSVN với các cựu quân nhân, nhân viên công chức thời Việt Nam Cộng Hòa. Đỗ Hoàng Điềm đã nhanh nhẩu xác định, việc phân biệt đối xử xem như đã chấm dứt từ lâu và theo Đỗ Hoàng Điềm thì việc này đã không còn nữa từ đầu thập niên 1990. Với câu trả lời gian trá này đã khiến chính người hỏi (Nghị Sĩ Jim Webb) phải bày tỏ thái độ bất mãn, ông nói:
“Cá nhân tôi vẫn thấy nó vẫn còn tiếp tục sau thập niên 1990”.
Cũng từ câu nói của Đỗ Hoàng Điềm, đa số cho rằng đảng Việt Tân đang “nâng bi” chạy tội cho CSVN. Một số lại ngụy biện, xin thông cảm cho một người trẻ thiếu kiến thức chính trị như Đỗ Hoàng Điềm. Tuy nhiên, dù bất cứ chiều hướng nào cũng không ai phủ nhận câu nói của Đỗ Hoàng Điềm là một sự xuyên tạc trắng trợn, rất ấu trĩ, không thể xẩy ra nơi một nhân vật khoa bảng, hơn nữa đang giữ trách vụ Chủ Tịch một đảng chính trị tầm cỡ hiện nay.

Tuy tình hình quấy rối không có gì mới trong tháng 4-5-6, nhưng những nhiêu khê vẫn tồn đọng và kéo dài một cách lê thê như một làn sóng ngầm liên tục. Cho đến tháng Bảy 2008, một sự kiện khác xẩy ra với âm mưu xoá bỏ sự hiện diện của lá cờ Vàng chính nghĩa trong “Đại Hội Giới Trẻ Công GiáoThế Giới lần thứ 23 năm 2008 tại Sydney”, với mục đích tạo cơ hội cho cờ máu CSVN được quyền độc tôn trong đại hội, nhằm phô trương, tuyên truyền cho tập đoàn khát máu CSVN và đầu độc giới trẻ tại hải ngoại. Điều này do Hồng Y Phạm Minh Mẫn chủ xướng. Tuy nhiên, với sự cảnh giác và ý thức của toàn thể thành viên Thanh Niên Công Giáo Việt Nam tại hải ngoại, cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Úc Châu đã hiệp thông cùng khối Thanh Niên Công Giáo hiện diện trong đại hội để cùng biểu dương chính nghĩa bằng cả một rừng cờ Vàng trong ngày bế mạc với trên mười ngàn lá cờ đủ cỡ lớn, nhỏ. Trước khí thế hùng mạnh ấy, những tên cán bộ CSVN đã được gài đặt cũng đành thúc thủ. Đây cũng là một chiến thắng ngoạn mục chưa từng có trong các đại hội trước đây.

Niềm vui chưa dứt thì chuyện buồn lại đến, Ngày 15 tháng 9 năm 2007, Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế (Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất) đã loan tải khắp nơi về Giáo Chỉ số 9 của Viện Tăng Thống, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất do Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang ấn ký. Kế tiếp Ngày 26-9-2008, công bố Thông Bạch hướng dẫn thi hành Giáo Chỉ số 9 do Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ ấn ký ngày 25-9-2008. Theo tinh thần giáo chỉ số 9 là một sự xác định lại quan điểm, lập trường và cơ cấu tổ chức trong cũng như ngoài nước, tố giác và khai trừ một số tổ chức tiếm danh, lũng đoạn. Trong Giáo chỉ có đoạn viết
"một số phần tử cơ hội trong cộng đồng Phật giáo hải ngoại tiếp tay gây phân hóa, tạo ly gián, biến tướng chủ trương, đường hướng sinh hoạt của GHPGVNTN Hải ngoại, âm mưu dập tắt tiếng nói của Giáo hội trên địa bàn quốc tế ".
Khi giáo chỉ số 9 được ban hành cũng là lúc bắt đầu một sự giao động mạnh và có thể đi đên khủng hoảng trong hàng ngũ Tăng Ni cũng như Phật tử trong và ngoài nước. Cũng từ tinh thần Giáo Chỉ số 9, trong dịp cuối năm, Thượng Tọa Thích Quảng Ba đã phải lao tâm, lao lực giải thích, thanh minh một số sự việc liên quan đến Giáo Chỉ. Tuy nhiên, với hành xử của TT Quảng ba từ xưa đến nay sự thanh minh, thuyết phục có có phần khó khăn. Bởi lẽ, chính TT Quang Ba đã bảo lãnh khá nhiều tu sĩ trong cái gọi là Giáo Hội PGVN, một cơ cấu được hoạt động dưới sự chỉ đạo của Mặt trận Tổ Quốc CSVN mà người đời thường gọi là “Quốc Doanh”. Hơn nữa trong kỳ tháng 5-2008 vừa qua, Chính TT Quảng Ba chính thức kêu gọi Tăng Ni, Phật tử về dự “Đại Lễ Tam Hợp (Vesak)’ tại Việt Nam. Mặc dù ai cũng biết đại lễ này đã do “Giáo Hội Phật Giáo Quốc Doanh” và đảng CSVN lũng đoạn nhằm tạo một bình phong che đậy những tội ác đã gây ra cho Phật Giáo VN nói riêng và các Tôn giáo khác nói chung.

Cũng trong những ngày cuối năm, CSVN lại mở chiến dịch hỏa mù bằng cách cho Việt gian, nằm vùng tạo ra một “vụ án” phi lý và mục tiêu là Nhà Thơ Nguyễn Chí Thiện. Cuối cùng cũng chẳng được gì, chỉ quấy rối tạo nhiêu khê, gây phân hoá chút đỉnh trong một koảng thời gian ngắn nhân dịp cuối năm.

Câu chuyện nhà thơ Nguyễn Chí Thiện vừa lắng đọng chút đỉnh, thì tại Tiểu bang Queensland - Úc Châu, lại một sự kiện khác gây xáo trộn cộng đồng do một nhóm du sinh tại đây tổ chức Hội Chợ lấy tên “Taste Viet Nam”. Hội chợ này được sự hậu thuẫn và tài trợ của Toà Đại Sứ CSVN tại Úc. Đúng ra cũng chăng có gì đáng bàn, vì đây chỉ là những việc lẻ tẻ trong chính sách nhiễu loạn của CSVN, mà du sinh chỉ là những con cờ nhi nhô chút đỉnh. Tuy nhiên, điều đáng nói là chính đảng Việt Tân địa phương và Bác sĩ Bùi Trọng Cường, đương kim Chủ Tịch Cộng Đồng NVTD Tiểu bang Queensland, đã có những hành động “đi đêm” yểm trợ và tham dự mới là điều đáng buồn. Từ đó trong dư luận đưa ra một câu hỏi hơi khó trả lời “ Họ là ai, tay sai của VC hay chỉ vì lòng tham gì đó mà đành bán rẻ lương tri ?”. Sau đó vài tuần trong cuộc biểu tình tại Canberra, Bs Cường cũng đã lợi dụng chức vụ Chủ Tịch Cộng Đồng phát biểu quảng cáo và tôn vinh du sinh. Tuy đã cố gắng luồn lách lợi dụng thời cơ, nhưng trong cái thế “Thiên bất dung gian”, đồng hương đã phát giác phản đối, và Ban Tổ Chức buộc phải lấy lại Microphone và đưa Bs Cường trở xuống với một nỗi ê chề rất khó coi.

Đến đây, tưởng chừng như đã chấm dứt câu chuyện một năm, bất ngờ Cộng Đồng Người Việt tại Fernando Valley, California USA tổ chức một buổi gây qũy từ thiện, giúp cô TIM, một người Thụy Sĩ, từng làm công việc từ thiện “âm thầm” tại Việt Nam trong nhiều năm.

Buổi gây quỹ này nhằm mục đích giúp cô TIM có thêm kinh phí, hầu có thể duy trì công việc từ thiện của cô một cách tốt đẹp hơn. Tuy nhiên theo tin tức từ buổu gây qũy đua ra, khi mọi người nghiêm chỉnh làm lễ chào Quốc Kỳ, thì cô TIM đã giận dữ bỏ đi ra. Sau khi chào cờ xong, cô trở lại và tuyên bố:
"Trong các chương trình có tôi đến hiện diện, tôi không muốn quý vị treo cờ và chào cờ, vì việc làm của tôi là việc làm từ thiện, tôi chủ trương phi chính trị. Trong các buổi sinh hoạt trong nước và ngay tại Trung Tâm Chấp Cánh, tôi đều không treo bất cứ lá cờ nào".
Qua hành xử và câu nói này của cô TIM, có lẽ không ai có thể phủ nhận đây là một thái độ hỗn xược, rất ư là thiếu văn hoá dù dựa trên nên tảng Đông phương hay Tây phương. Cũng vì thế đa số nhận định, nhìn vào ngôn ngữ và hành xử của cô TIM, không ai có thể ngờ được lại xẩy ra nơi một người có đầy "lòng từ tâm" đã từng bương trải gây qũy nhiều nơi. Có chăng nó chỉ có thể thấy được ở những con người CS, hay đã bị nhiễm trùng CS, trong mục đích tạo một tiền lệ, mong hủy bỏ sự hiện diện lá cờ Vàng thân yêu của người Việt tỵ nạn CS như chiêu bài "Vượt thử thách, xóa ngăn cách", nối kết, hoà hợp trước đây đã từng xẩy ra.

Hơn nữa, những lời cô Tim nói toàn là một sự bịp bợm, gian trá. Điều này đã được chứng minh qua một số Video Chip nói về hoạt động của cô trong nước do "Hãng Phim Truyền Hình Thành Phố HCM" thực hiện đã được tung lên Net, trong đó tất cả các sinh hoạt của cô đều không thiếu lá cờ máu CSVN và đôi khi còn có cả cờ của một vài quốc gia khác. Ngoài ra, cũng theo đoạn phim cho biết, nhà nước CSVN cũng rất ưu ái, nhiều lần tuyên dương "công đức" của cô, và hệ thống truyền thông trong nước cũng đã quảng bá tích cực đến quảng đại quân chúng. Vì thế hiện nay cô TIM được coi như là một "ngôi sao sáng" của tình người mà cả nước đều biết. Như vậy, phi chính trị chỗ nào, tại sao cô phải nói dối, hy vọng tất cả chúng ta đều có câu trả lời.

Sau cùng, đây chỉ là một chút sơ lược về một số nhiêu khê của cộng đồng người Việt tỵ nạn trong một năm vừa qua, mong rằng có thể dùng để gẫm lại sự đời, hầu có thể thêm chút kinh nghiệm để cảnh giác hơn trong bước đường đấu tranh sắp tới, và kính chúc toàn thể độc giả bốn phương một mùa xuân an khang và một năm mới đầy hy vọng.

* Phạm Thanh Phương (Úc Châu)
Tài Liệu Tham Khảo:

Trương Nhân Tuấn, 2008, Thấy gì ở lá thư ông Đỗ Hoàng Điềm chủ tịch đảng Việt Tân gởi đồng hương ngày 19 tháng 3/2008 ?
http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=3696

Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

“ Lò cừ nung nấu sự đời
Bức tranh Vân Cẩu vẽ người tang thương”

Xuân đến, xuân đi, thấm thoát đã tròn một năm. Nhìn lại đoạn đường trôi qua với bao nhiêu biến đổi thăng trầm, và cuối cùng vẫn để lại trong lòng người nhiều ưu tư, trăn trở cho một đất nước không may, nằm dưới ách cai trị của một tập đoàn tàn bạo, vô luân CSVN. Trong những ư tư ấy, Justify Fullđột nhiên hai câu thơ
“Thiên thượng phù vân như bạch y
Tu du hốt biến vi thương cẩu"
của thi sĩ Đỗ Phủ lại trở về như một sự an ủi, để ngẫm lại chuyện đời trên con đường đi tìm một tương lai tương sáng cho quê hương, dân tộc. Đồng thời có thể từ đó, tìm thêm một ít kinh nghiệm trong cái biến đổi khôn lường của thế sự.

Kể từ khi cuộc cầu nguyện đòi khu đất Toà Khâm Sứ Hànội xuất hiện như một khúc quanh của lịch sử và được coi như là một ánh sáng của niềm tin, với những tin tức, bình luận rất sôi nổi. Nhưng rất tiếc cuối cùng đã rút êm để đi vào chờ đợi một sự “đối thoại”, giải quyết trong ôn hòa với những lời hứa cuội của tên Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng vào đúng dịp đầu năm Mậu Tý. Song song với sự kiện này, một số “nhà đấu tranh dân chủ” xuất hiện như một trận “trăm hoa đua nở” với những tên tuổi rất mới lạ trên khắp nẻo đường đất nước, hầu như để thay thế cho những người đi trước nay đang nằm trong ngục tù như Linh mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, hay những người đã từng một thời sáng chói như Hà Sĩ Phu, Nguyễn Thanh Giang, Trần Khuê, Đỗ Nam Hải, Trần Anh Kim, Nguyễn Khắc Toàn, Lê chí Quang, Nguyễn Vũ Bình ,v,v. Tất cả những hiện tượng xẩy ra qua những bài viết, những cuộc phỏng vấn từ quốc nội và những diễn biến qua hành xử của CSVN đối với họ đã khiến niềm tin của người dân trồi sụt bất thường, hư hư, thực thực, lúc có lúc không, lúc cao lúc thấp tựa như bức tranh “Vân Cẩu” mà thi sĩ Đỗ Phủ đã diễn tả qua hai câu thơ cuả ông.

Cũng trong bức tranh “Vân Cẩu” đó, nếu chỉ nhìn vào hình thức người ta có thể thấy được nhiều sắc thái, pha trộn lẫn nhau khó lòng phân định rõ ràng. Cùng một mục tiêu, hành động nhưng có người thì bị trù dập tù đầy, nhưng cũng có người thong dong tiếp tục lai rai chửi bới, mặc dù cũng chẳng nhẹ nhàng hơn, uyển chuyển hơn, hay hòa hoãn hơn tí nào. Đây mới là những yếu tố then chốt CSVN đã lợi dụng, bịp bợm trước nhãn quan quốc tế là VN cũng đang có tự do, dân chủ, mặc dù vẫn còn hạn hẹp. Một điều rõ rằng khó có thể phủ nhận, là những “nhà đấu tranh dân chủ” hiện tại, họ vẫn có quyền nói lên tư duy của chính họ, nếu không, làm sao họ có thể trả lời phỏng vấn, lên án CSVN rất nặng nề như đã và đang xẩy ra. Còn lại những người đang bị cầm tù, thì đảng lại ghép vào thành phần tội phạm hình sự như đã từng rêu rao trên khắp thế giới. Bằng chứng cho thấy, hiện tượng sáu đảng viên có tiếng và tầm cỡ, nổi tiếng của đảng Việt Tân đã về nước và bị bắt trong tháng 11 năm 2007, với những tội danh “chống phá và có âm mưu lật đổ nhà nước CSVN”, nhưng đảng và nhà nước CSVN vẫn tôn trọng “tự do, dân chủ”, phóng thích một cách rất trân trọng mà cả thế giới đều biết. Vì thế nên Đỗ Hoàng Điềm, Chủ tịch đảng Việt Tân đã mạnh dạn xác nhận với quôc tế là sự phân biệt đối xử với thành phần Quân, Cán, Chính VNCH dưới chế độ CSVN đã nhạt dần từ năm 1990. Như vậy, sự kiện “phóng thích” sáu đảng viên [1] của họ là một bằng chứng hiển nhiên là sự “đối xử phân biệt” dưới chế độ CSVN nay đã biến mất từ lâu.

Tiếp đến, sự kiện Đức Tăng Thống Thích Huyền Quang viên tịch và sư lũng đoạn của thành phần “Phật Giáo Quốc Doanh” từ trong nước đến hải ngoại, đã tạo nên một bối cảnh phức tạp và niềm tin của người dân cũng từ đó bị giao động và có phần suy giảm.

Bên cạnh những hiện tượng và diễn biến đấu tranh đòi dân chủ, một số sự kiện khác như công nhân đình công đòi quyền lợi, người dân đòi công lý khi nhà đất bị cán bộ hay nhà nước chiếm dụng cũng xuất hiện rải rác khắp nơi qua chiến dịch “dân oan khiếu kiện”, thanh niên biểu tình chống Trung Cộng,v,v.. Tất cả đã chợt đến , chợt đi một cách nhẹ nhàng đến độ bình thường, khiến sự quan tâm của người dân và quốc tế cũng bị nhạt dần theo thời gian.

Riêng sự kiện “cầu nguyện” tại giáo xứ Thái Hà và Tổng Giáo Phận Hànội đã bùng lên một cách mạnh mẽ và được coi như là một “dấu ấn” đặc biệt, đã làm chấn động thế giới, tưởng chừng như một trái bom sẽ tạo được một sự nổ dây chuyền trên toàn quốc, để tiễn đưa chế độ thối nát dã man, tàn bạo CSVN vào hố sâu của lịch sử. Nhưng rất tiếc, cuộc “cầu nguyện lịch sử” ấy không tìm được sự đồng hành của nhiều thành phần dân tộc, để cuối cùng bao nhiêu công sức đổ ra cũng đành phải trở về im lặng một cách rất bình thường trong nhẫn nhục. Có còn lại chăng chỉ là chút dư âm từ sự tách bạch lập trường của Giáo hội Công giáo Việt Nam qua hành xử minh bạch của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt và thái độ dứt khoát của Hội Đồng Giáp Mục qua bài Quan điểm nẩy lửa gởi cho tập đoàn lãnh đạo CSVN trong Tháng 9 vừa qua.

Duyệt lại tình hình đấu tranh trong một năm qua, đa số dư luận cho rằng hình như tất cả đã vô tình bị cuốn vào một qũy đạo do CSVN và tay sai sắp đặt có trình tự thứ tự lớp lang để lừa bịp thế giới bằng một “bức tranh dân chủ” tuyệt đẹp, được tạo nên bằng máu và nước mắt của những người mang đại chí, với tâm huyết cùng quê hương và dân tộc. Điều này chính nhà báo Nguyễn Vũ Bình đã nhận định qua một vài viết vào cuối năm 2007 vừa qua:
”Năm 2006 là năm đánh dấu mốc điểm các phong trào đấu tranh đòi dân chủ bộc phát mạnh nhất, nhưng tất cả hầu như đã bị CSVN gài người lũng đoạn, và bây giờ chỉ còn lại hình thức”.
Đây cũng là những kinh nghiệm thương đau cho toàn dân Việt Nam nói chung và những người còn quan tâm trăn trở với tiền đồ của dân tộc riêng. Cũng với những kinh nghiệm đau thương này, hy vọng sẽ không phải là những động lực làm “nản chí anh hùng”. Ngược lại, chỉ xin coi đó là “Lò cừ nung nấu sự đời... Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương" mà cụ Nguyễn Gia Thiều đã viết Trong Cung Oán Ngâm Khúc khi xưa, để trang bị thêm cho hành trang trong những ngày kế tiếp của một năm mới tràn đầy niềm tin và hy vọng.

* Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

HTML clipboard

Tài liệu Tham Khảo:


Nguyễn Gia Thiều, Cung oán ngâm khúc

http://chimviet.free.fr/vanco/cungoan/cungoan.htm


[1] Trang Thơ Đỗ Phủ

http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=60


Thả sớm 15,140 tù nhân dịp Tết, gồm cả 277 đảng viên tham nhũng
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=89604&z=2


Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

Theo sự tiến bộ kỹ thuật của thông tin toàn cầu, CSVN bị lâm vào tình trạng rất bối rối, không thể bưng bít toàn bộ những bỉ ổi, xấu xa, dã man của chế độ, mặc dù đảng và nhà nước đã cố gắng và tốn rất nhiều ngân khoản cho việc thành lập các bức tường lửa, kèm theo những khủng bố răn đe. Tuy vậy, trong bối cảnh văn minh toàn cầu với những trao đổi, yểm trợ từ cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại, những bức tường lửa cũng bị phá hủy khá nhiều, và bây giờ hiện tượng các Blog mọc ra như một trận trăm hoa đua nở đã khiến cho đảng mà nhà nước tỏ ra lo sợ hơn.

Cũng vì thế trong tháng 12 vừa qua, Thứ trưởng Thông tin và Truyền thông CSVN, Đỗ Quý Doãn cho biết,
“Sẽ yêu cầu những công ty Internet lớn như Yahoo! và Google hợp tác bằng cách cung cấp thông tin cá nhân để quản lý các trang blog trên mạng”
. CSVN cho rằng cần phải kiểm soát ngăn chặn tất cả những nguồn tin liên quan đến quan điểm chính trị, tôn giáo, hay xã hội,v,v... Trước lời tuyên bố quái đản này, trong dư luận cũng bàn tán khá xôn xao, nhất là giới trẻ tại quốc nội.

Để làm sáng tỏ được phần nào của vấn đề, một cuộc phỏng vấn ông Robert Boorstin, Giám đốc Truyền thông công ty Google được RFA thực hiện vào ngày 03-12-2008 vừa qua. Nội dung cuộc phỏng vấn như là một sự thăm dò để có thế biết được thái độ và hành xử của Google trước sự kiện này. Theo nội dung cuộc phỏng vấn, ông Robert Boorstin, Giám đốc Truyền thông công ty Google cho biết:
“Việt Nam chưa liên hệ với chúng tôi. Như đã cam kết trong Bản quy tắc Sáng kiến mạng toàn cầu, chúng tôi luôn sẵn sàng thảo luận với các chính phủ trên toàn thế giới về các chính sách đề nghị, miễn là giúp phát huy quyền tự do bày tỏ ý kiến và bảo vệ thông tin cá nhân. Ngay tại thời điểm này, chúng tôi chưa biết chính xác chính quyền Việt Nam muốn gì...”.
Với câu nói trên của ông Robert Boorstin có lẽ chúng ta cũng thấy được rõ quan điểm và hành xử của Google với chức năng truyền thông của họ, họ không thể để đồng loã với một thế lực tàn bạo phi nhân như CSVN để đi ngược lại xu thế văn minh của nhân loại. Cũng trong đoạn phỏng vấn, ông Robert Boorstin cho biết:
“Khi các chính phủ liên hệ yêu cầu chúng tôi giúp truy tìm tội phạm, xóa chặn các hình ảnh khiêu dâm trẻ em trên mạng, chúng tôi thường hợp tác với các yêu cầu như thế.”
. Tuy nhiên trên thực tế, có lẽ ai cũng biết chắc chắn CSVN không yêu cầu ngăn chặn những điều tác hại đến xã hội như ông Robert Boorstin đề cập, nếu có chỉ là tấm bình phong che cho đẹp. Còn lại cái mà CSVN cần ngăn chặn, chính là những tin tức có liên quan đến sự đòi hỏi một nền dân chủ thực sự của người dân hay tiếng nói từ những nỗi oan khiên của dân tộc Việt Nam đang gánh chịu. Những “hình ảnh khiêu dâm trẻ em trên mạng” không phải là điều CSVN quan tâm. Ngược lại họ còn muốn phát huy bằng cách “mắt nhắm, mắt mở”, nhằm đầu độc những thế hệ trẻ trở thành những kẻ băng hoại trong tâm linh và suy nhược trong ý thức quê hương, dân tộc để dễ bề cai trị, bóc lột.

Người ta thường nói “Thanh niên là rường cột của quốc gia”, vì thế CSVN rất sợ một xã hội trong lành tâm hồn, khỏe mạnh no đủ về thể xác. Một khi giới trẻ có một đời sống tâm hồn thực sự trong sáng và no đủ thể xác, chắc chắn họ sẽ nghĩ đến quốc gia, dân tộc nhiều hơn và tìm cách cải tiến đất nước khá hơn, để dân tộc họ không phải cúi đầu trước quốc tế vì lạc hậu. Từ đó chắc chắn những đấu tranh tích cực sẽ xuất hiện và sẽ đưa chế độ đốn mạt phi nhân CSVN vào hố sâu bóng tối của lịch sử. Ngược lại, một khi những tâm hồn trẻ bị đầu độc bởi băng hoại thì lúc đó họ sẽ trở thành bạc nhược, chỉ biết hành xử như một con Robot, ngụp lặn trong cái vũng lầy đen tối của CSVN đưa ra.

Có lẽ cũng hiểu được điều này, nên ông Robert Boorstin xác định:
“Chúng tôi tin tưởng tuyệt đối vào quyền tự do bày tỏ ý kiến qua các trang web cá nhân hay các trang Blog. Cho nên chúng tôi cho rằng Blog là cách thể hiện quan điểm cá nhân của một người, cho dù là về văn hóa, nghệ thuật, đời sống thường nhật, chính trị, hay về bất cứ điều gì anh ta muốn bày tỏ. Chúng tôi không kiểm duyệt dựa trên nội dung của các trang Blog và cũng không muốn làm điều đó.”.
Đi qua một số điểm chính trong cuộc phỏng vấn, dù muốn hay không, chắc chắn không ai có thể phủ nhận những câu trả lời của ông Robert Boorstin như một gáo nước lạnh tạt vào bộ mặt bỉ ổi của tập đoàn CSVN. Đồng thời những lời nói này cũng bạch hóa thêm được chính sách chà đạp nhân quyền, khống chế truyền thông của tập đoàn trơ trẽ này trước nhãn quan quốc tế. Hơn nữa, lời nói của Thứ trưởng Thông tin và Truyền thông CSVN, Đỗ Quý Doãn cũng đã thay cho lời thú tội và cũng xác định tất cả những báo cáo, phúc trình ca tụng về thiện chí cải tổ nới rộng nhân quyền và tự do tôn giáo chỉ là những điều lừa bịp. Từ đó đại đa số dư luận cũng nhận định, những tập đoàn, đảng phái, phe nhóm cho rằng
“sự phân biệt đối xử với những người quân, cán, chính thuộc chế độ VNCH đã không còn, bắt đầu từ năm 1990”[1]
đều là những luận điệu tuyên truyền, chạy tội cho CSVN trong những ý đồ đen tối nào đó.

Một câu hỏi được đặt ra ở đây là tại sao đã trải qua hơn 30 năm “thống nhất” đất nước, tất cả quyền binh đã nằm gọn trong bàn tay chế độ. Nhưng CSVN vẫn tỏ ra sợ hãi khi những thông tin “rò rỉ” ra hải ngoại, đặc biệt là những sự kiện đàn áp dân chủ và tôn giáo? Vậy CSVN đã sợ gì ?

Để trả lời câu hỏi, đi ngược dòng lịch sử từ hơn 30 năm qua để thấy được đối tượng sợ hãi nhất của CSVN chính là cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại. Cộng đồng người Việt tỵ nạn chính là một trở ngại lớn nhất trong việc khống chế đất nước, hà hiếp, bóc lột người dân và bán rẻ giang sơn. tất cả những hành xử đốn mạt của CSVN đều được cộng đồng người Việt tỵ nạn bạch hoá trước quốc tế. Từ đó, CSVN đã gặp rất nhiều khó khăn trong chính sách lừa đảo và cũng thất bại rất nhiều trong những quan hệ bang giao. Do đó đã từ nhiều năm qua, CSVN cũng đã cố gắng tối đa, vận dụng rất nhiều phương cách, hao tổn rất nhiều tài lực, không ngoài mục đích biến cộng đồng người Việt hải ngoại trở thành “thần dân” của chế độ. Tuy nhiên, nhìn lại kết qủa vẫn không có gì được gọi là khả quan, ngoài một số con buôn chính trị nhẩy múa tung hô, kêu gào hợp tác với đảng và nhà nước cùng “canh tân” đất nước. CSVN cũng biết rằng, một khi những tin tức về hành xử đốn mạt của chế độ đã “rò rỉ” ra ngoài càng nhiều, thì sự giao cảm của người dân trong và ngoài nước càng lớn mạnh trong bối cảnh “Lưỡng tâm hà xứ nhất điểm thông”. Cái điểm tương thông quan trọng nhất là ý thức quê hương trong nhân bản. Một khi cái điểm thông này phát triển mạnh, lúc đó sức mạnh dân tộc sẽ được phục hồi và đảng và chế độ CSVN sẽ phải triệt tiêu để trả lại những ngày tháng yên bình, hạnh phúc cho quê hương và dân tộc.

Tóm lại, qua lời tuyên bố của Thứ trưởng Thông tin và Truyền thông CSVN, Đỗ Quý Doãn và lời phát biểu của ông Robert Boorstin, Giám đốc Truyền thông công ty Google, đã đưa ra hình ảnh của hai thái cực chánh tà lưỡng phân một cách rõ rệt. Từ đó, hy vọng tất cả những người vô tình hay cố tình đang lạc trong mê lộ để cho rằng CSVN đang giác ngộ, quay về với chính nghĩa dân tộc, cải tiến nhân quyền, nới rộng tự do trên con đường dân chủ hoá đất nước xin hãy thức tỉnh. Tất cả những luận điệu “hãy quên qúa khứ, xoá bỏ hận thù, đoàn kết dân tộc” để cùng “canh tân” đất nước đều là lừa bịp từ CSVN và bè lũ tay sai. Sau cùng, cũng hy vọng các nhà cung cấp dịch vụ truyền thông như Yahoo! - Google không vì một lý do gì phải đi ngược với những “cam kết trong Bản quy tắc Sáng kiến mạng toàn cầu” mà họ đã ký.

* Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

Tài liệu tham Khảo:

Trà Mi, phóng viên Đài RFA, 2009, Đại diện Google trả lời RFA về đề nghị kiểm soát blog của VN
http://www.rfa.org/vietnamese/vietnam/chinh-tri/Vietnam-seeks-google-help-to-control-bloggers-interview-with-director-of-policy-communications-for-google-tmi-12062008104209.html

[1] Trương Nhân Tuấn,2008, Đỗ Hoàng Điềm và việc “phân biệt đối xử”: Thấy gì ở lá thư ông Đỗ Hoàng Điềm, chủ tịch đảng Việt Tân gởi đồng hương ngày 19 tháng 3 năm 2008?, DCVOnline http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4850

Phạm thanh Phương (Úc Châu)

Ngày 10-12-2008, trong khi khắp thế giới rầm rộ kỷ niệm 60 năm ngày Quốc Tế Nhân Quyền, thì tại Việt Nam vẫn còn biết bao nhiêu người đang nằm trong ngục tối cũng chỉ vì muốn đòi lại cái quyền làm người cho dân tộc. Trải qua hơn nửa thế kỷ, các nước tự do trên thế giới đã thực thi và vun đắp cho hai chữ Nhân quyền mỗi ngày thêm tươi đẹp. Ngược lại dưới chế độ độc tài toàn trị CSVN thì hai chữ này không thể có chỗ đứng dù là một chỗ bấp bênh nghiêng ngả.

Nhìn vào tực tế, Nhân quyền là hai chữ thân thương nhất của tất cả mọi người trên trái đất, nhưng nó lại rất mờ ảo và xa xăm đối với dân Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ qua với miền Bắc và hơn 30 năm qua với miền Nam, mặc dù ý nghĩa của nó rất đơn giản và bình dị, hai chữ này chỉ nói lên quyền sinh sống của một con người, và được vo tròn trong một số điều kiện căn bản như quyền tự do đi lại, quyền tự do thông tin, tự do ngôn luận, tự do suy tư và tự do tín ngưỡng,v,v. Nói chung là tất cả sự tự do mà con người được quyền hưởng thụ như đã quy định trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân Quyền 1948...

Nhìn vào những quốc gia tiến bộ như Anh, Mỹ, Nhật,v,v, chúng ta thấy người dân của họ đã được hưởng trọn hai chữ nhân quyền một cách chính xác, đúng nghĩa và được pháp luật bảo vệ một cách trân trọng. Họ có quyền tự do đi lại, buôn bán, ngôn luận và chính trị ,v,v, họ có quyền nói lên những gì họ thích hay không thích kể cả chỉ trích hay phản đối dù hữu lý hay vô lý đối với chính quyền của họ. Chính quyền luôn luôn lắng nghe những tâm tư, nguyện vọng của họ để nghiên cứu, phân tích và giải bày, những gì có hay không thể thi hành trong thái độ tương kính và hài hòa. Từ đó người dân mới có được đời sống thoải mái mà yên tâm an cư lạc nghiệp cũng như tự tin để học hỏi và cống hiến tài năng phát triển quốc gia mỗi ngày một tươi sáng hơn. Ngược lại, chúng ta cũng có thể nhìn thấy được những nơi như Việt Nam, thì đời sống nhân dân như thế nào, đất nước có phát triển được hay không?... Hiện tại, chắc chắn ai cũng biết Việt Nam là một nơi đầy ắp những khủng bố, gian manh, lừa lọc. Đời sống người dân lúc nào cũng lo âu sợ sệt, bị áp bức, bóc lột cũng không dám lên tiếng, cuộc sống có thể nói là còn tệ hơn cảnh nô lệ dưới thời thực dân khi xưa.

Nói đến nhân quyền, tất nhiên không thể thiếu lãnh vực đạo đức và tâm linh. Nhưng rất tiếc nơi có thể gây dựng, phát triển đạo đức tâm linh là tôn giáo cũng đang phải ngậm ngùi khốn khổ trong tủi nhục. Bởi lẽ CS và Tôn giáo lúc nào cũng là hai thái cực nghịch chiều, tôn giáo mang nhiệm vụ dạy con người yêu mến và trân qúy nhân quyền qua sự bình đẳng, bác ái và phải tôn trọng triệt để sự bình đẳng và bác ái này. Thí dụ như Phật giáo thường nói trong con người ai cũng có Phật tánh và biết tu sẽ thành Phật, đó là sự bình đẳng trong xã hội loài người và con người được quyền tự do lựa chọn thành Phật hay không tùy theo lối sống của chính mình. Thiên Chúa giáo cũng dạy rằng, con người vốn dĩ là một thực thể tự do, con người có cũng quyền lựa chọn hướng đi của mình. Theo thánh kinh, với quyền năng của Thiên Chúa, ngài có thể khiến tất cả loài người đều trở nên tốt đẹp và khỏi phải bận tâm dạy dỗ... Nhưng nếu làm như vậy thì sự tự do của nhân quyền sẽ không còn nữa. Vì thế, ngài tôn trọng sự tự do ấy nhưng ngài vẫn muốn con người được toàn thiện cho nên ngài đã phải sai những sứ thần xuống gian trần hướng dẫn và dạy dỗ con người đi tìm “Chân, thiện, mỹ” của cuộc đời, như trong kinh thánh có nói “Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt”. Với câu kinh thánh n ày, Thiên Chúa đã không cưỡng bách con người trở thành thợ gặt mà chỉ khuyên răn dạy dỗ con người nên cố gắng tu thân, dưỡng tính để thành những người thợ gặt trên cánh đồng tràn đầy những bông lúa hạnh phúc của nhân gian. Ngược lại, CS không muốn cho con người được tự do, họ đã tước đi tất cả những quyền căn bản của con người, khống chế con người trở thành một thứ nô lệ bằng bạo lực. Do đó tại sao Tôn giáo lại là khắc tinh của CS mà họ luôn luôn muốn tiêu diệt bằng mọi cách.

Tuy nhiên, với bao nhiêu cố gắng trong việc xử dụng bạo lực, nhưng CS chỉ có thể kiểm soát và khống chế con người về mặt vật chất một cách tương đối và vẫn thất bại trong mặt tinh thần cũng như tư tưởng. Điều này được thể hiện qua những cá nhân cũng như tổ chức đã và đang trang đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền trong nước hiện nay.

Tóm lại, Thượng Đế tạo ra loài người là một sinh vật thông minh trên vạn vật và hoàn toàn tự do, tốt, xấu, thiện, ác, xướng, khổ là do chính con người tự tạo. Như vậy trong quan niệm hữu thần có thể nói “Mưu sự tại thiên, thành sự tại nhân” và với CS vô thần thì “ Mưu sự tại đảng và thành sự tại dân”. Chính vì vậy, hai chữ nhân quyền không thể cầu xin ở thượng đế hay được ban phát từ bất cứ một thế lực nào. Thượng Đế có thể soi sáng phần tâm linh và tạo điều kiện hay cơ hội, nhưng muốn có nhân quyền hay hạnh phúc thực sự thì phải chính con người tranh đấu tìm về cho mình....

Trước năm 1975, tuy dưới một chế độ Cộng Hoà non trẻ mang tính cách phôi thai, cộng với tình hình an ninh bất ổn do Cộng quân ngày đêm quấy nhiễu, Tuy vậy, hai chữ nhân quyền vẫn được tôn trọng một cách đúng đắn. Do đó người dân miền Nam ít ai nhắc nhở đến hai chữ này, họ không quan tâm lắm bởi vì tất cả họ đã có và đang được hưởng cái quyền làm người một cách trân qúy. Để chứng minh cho điều này, trong tác phẩm “Tù binh và Hòa bình“ của nhà văn Phan Nhật Nam cũng có nhắc đến hình ảnh hai thái cực của hai chế độ VNCH và CSBV, để thể hiện rõ nét hai chữ Nhân quyền qua tâm trạng tù binh của hai bên khi trao đổi vào năm 1973. Phía quân đội Quốc Gia bị bắt làm tù binh của CS thì lo sợ không có tên trong danh sách trao đổi, còn ngược lại cán binh CS bị bắt làm tù binh tại miền Nam thì lại rất sợ có tên trong danh sách trao đổi. Vì những cán binh CS này thừa biết rằng nếu họ được trao đổi để phải trở lại kiếp sống tệ hơn trâu bò mà họ đã được CS ban bố trong những năm dài đen tối trước khi bị bắt làm tù binh trong chế độ miền Nam tự do. Họ muốn ở lại miền Nam dù là một tù binh nhưng họ vẫn được hưởng đầy đủ no ấm và ý nghĩa của hai chữ nhân quyền theo tiêu chuẩn quốc tế.

Trong cục diện hiện tại, CSVN đang bước vào thế lúng túng kể cả đối nội cũng như đối ngoại. Vì thế để giảm thiểu sức mạnh đấu tranh của cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại, CSVN đang cố gắng dùng một số tay sai len lỏi lũng đoạn trong các cơ chế sinh hoạt đấu tranh, tạo ra những phi lý, nghịch lý làm mất niềm tin của người dân. Đồng thời tung ra những trận khói mù nhằm tập trung dư luận vào những tranh cãi vô bổ, hầu ru ngủ lực lượng người Việt lưu vong tại hải ngoại trên mọi ngõ ngách. Do đó, đây cũng là giai đoạn khó khăn nhất của chúng ta. Chúng ta cần xiết chặt tay nhau trong sáng suốt để đẩy mạnh công cuộc đấu tranh cho đến khi chế độ CS phải biến mất trên Quê hương, trả lại quyền làm người thự sự cho dân tộc như các quốc gia tự do trên thế giới.

* Phạm thanh Phương (Úc Châu)

-Phạm Thanh Phương (Úc Châu)-


Trong những năm gần đây, sức ép đòi dân chủ từ mọi phía, mọi tầng lớp, đã tạo nên một làn sóng khá mạnh, khiến chế độ độc tài toàn trị CSVN cũng phải bập bềnh giao động. Từ đó không còn cách gì hơn, đảng và nhà nước bắt buộc phải quanh co, tìm cách bịp bợm để mong chế độ được tồn tại một cách hợp lý, dù chỉ là những ngụy biện cưỡng từ đoạt lý. Song song với thủ đoạn bỉ ổi này, CSVN tung một số con rối tuyên truyền chủ trương của đảng tại hải ngoại là “muốn có dân chủ cần phải nâng cao dân trí trước", cần phải hợp tác với đảng để “canh tân” đất nước trong mọi lãnh vực, từ đó dân chủ mới có thể xuất hiện, phát triển và tồn tại”. Họ cho rằng “dân chủ chỉ có thể phát triển và tồn tại ở những quốc gia có một nền dân trí cao”.

Chính với những lý luận bịp bợm này, tất cả những tiếng nói đòi hỏi dân chủ đã bị CSVN dập tắt bằng những hành xử thô bạo, rừng rú như trường hợp Lm Nguyễn Văn Lý, Bs Nguyễn Đan Quế, Hoà Thượng Thích Quảng Độ,v,v. và còn rất nhiều những tiếng nói khác đã và đang bị đè bẹp hàng ngày trên khắc nẻo đường đất nước. CSVN cho rằng chưa đén lúc có thể có dân chủ , nên tất cả những người đòi hỏi dân chủ đều mangcái tội tính “nhiễu loạn, âm mưu lật đổ chế độ” và hàng loạt những tội danh khác. Trong khi đó, tại hải ngoại một số tay sai lại kêu gọi “canh tân” đất nước, làn từ thiện “cứu đói giản nghèo” hay giúp những khốn cùng, bệnh hoạn trong xã hội mà đáng lẽ CSVN có nhiệm vụ phải giải quyết.

Vấn đề được đặt ra ở đây, thế nào là đúng lúc để dân chủ phát triển khi toàn dân cứ phải lầm lũi đi “dưới tấm bảng chỉ đường XHCN” từ áp lực của những họng súng, những đe dọa, khủng bố, bắt bớ? Một xã hội mà toàn dân bị ép trong cái cảnh “cá chậu, chim lồng” thì làm sao có thể bung ra đại dương hay tung cánh trên bầu trời để tiếp cận, học hỏi và tìm hiểu để dân trí được nâng cao. Ngược lại, với sự bưng bít, khống chế, khủng bố như hiện tại thì chắc chắn chỉ làm cho dân trí mỗi ngày một tàn lụi theo thời gian, và một lúc nào đó con người trở nên ngu ngơ, đần độn trước ánh sáng văn minh của nhân loại. Như vậy, lối lý luận cưỡng từ đoạt lý của CSVN và đám “Việt gian tân thời” này có đúng không? Hay chỉ là sự bịp bợm một cách ấu trĩ ngu xuẩn, hầu có thể “canh tân” quyền lực cho chế độ độc tài khát máu CSVN thêm vững chắc, đưa đất nước lùi dần thêm vào tối tăm, lạc hậu.

Nhìn vào hoàn cảnh đất nước hiên tại, tham nhũng cửa quyền được bao che và phát triển như sóng dậy, triều dâng, tài sản của người dân bị cướp bóc đến cùng cực, “dân oan” khiếu kiện khắp nơi. Hệ thống truyền thông chỉ là một công cụ tuyên truyền bịp bợm cho đảng, tất cả những nguồn thông tin khác đều bị ngăn cấm. Như thế thì thử hỏi, bao giờ dân trí mới được khai thông để phát triển.

Ngược dòng lịch sử thế giới, tất cả các quốc gia văn minh tiến bộ hiện nay với một nền dân trí cao, đều là những quốc gia có một nền dân chủ vững chắc. Chính nền dân chủ của họ đã có trước, từ đó dân trí mới có cơ hội được nâng cao, phát triển để trở thành những cường quốc trên thế giới hôm nay.

Một điều cần nhấn mạnh ở đay, dân chủ chỉ là một thể chế, một chính sách được quy định trong hiến pháp của một quốc gia, với mục đích tạo sự tự do để con người phát triển, một khi con người được làm chủ lấy chính mình, không bị o ép, khống chế bởi thế lực cầm quyền, người dân được tự do ngôn luận, tự do thông tin và tiếp cận các nguồn thông tin từ nhiều khía cạnh, tất nhiên sự học hỏi sẽ được trải rộng để nâng cao trình độ hiểu biết và nhân thức, đó chính là dân trí. Ngược lại, một khi những điều căn bản này bị bạo lực tước đoạt như tại Việt Nam dưới chế độ CS, thì mãi mãi dân trí chỉ là một vùng lầy đen tối dầy đặc. Do đó, phải có dân chủ thì mới có thể phát triển dân trí và dân sinh.

Tại Việt Nam hiện nay, dưới chế độ độc tài, khát máu, phi nhân CSVN, dân chủ chính là một đề tài cấm kỵ, ẩn tàng đầy máu và nước mắt mà dân tộc đang phải gánh chịu. Nhìn lại “Lộ Trình Chín Điểm” của Bs Nguyễn Đan Quế; Bản “Tuyên Ngôn 8406” của Lm Nguyễn Văn Lý hay những bài viết “Thế Nào Là Dân Chủ” của Bs Phạm Hồng Sơn, đều là những tiếng nói hữu ích để nâng cao dân trí, giúp người dân có thể ý thức được những điều căn bản của nhân bản mà thế giới đã và đang phát triển. Từ đó người dân có thể mạnh dạn cống hiến tâm huyết cùng tài năng trong công việc phát triển và giữ gìn đất nước. Nhưng rất tiếc, chỉ vì đất nước không có dân chủ nên những tiếng nói lương tri đầy nhiệt huyết với quê hương, dân tộc này đã bị đè bẹp và triệt tiêu một cách tức tưởi trong thô bạo. Những tư tưởng ấy có chăng chỉ được phổ biến trên một số Website tại hải ngoại, còn lại người dân quốc nội chỉ lác đác một số người đọc được, nhưng chỉ đọc cho biết, không thể trải rộng trong toàn dân.

Riêng tại hải ngoại, mặc dù đang sống trong những quốc gia có một nền tảng dân chủ có thể gọi là tuyệt đỉnh, tất cả mọi quyền tự do căn bản đều được tôn trọng tới mức tối đa, nhưng rất tiếc vẫn còn một số người chưa thể thấu triệt được ý nghĩa căn bản của dân chủ trong hành xử. Những người này chưa biết lắng nghe những ý kiến, tư duy từ nhiều chiều hướng khác nhau, khi gặp những ý kiến khác biệt họ không thể chấp nhận để trao đổi, nới rộng, hầu cùng nhau đi đến cái chiết chung, tìm cho nhau một mẫu số chung của vấn đề. Ngược lại, họ chỉ biết hùng hục chụp cho đối phương một bộ “nón cối và đôi dép râu”, không cần chứng minh với những bằng chứng khả dĩ, dù chỉ để có thể thuyết phục phần nào của sự việc. Ngoài ra, sự kiện “tôn sùng lãnh tụ” một cách mù quáng vẫn còn tồn tại, không cần dùng lý trí để xét đoán đúng, sai, dù chỉ đối với một chủ tịch một Hội Đoàn, một Cộng Đồng hay một chức sắc của quá khứ. Họ không muốn chấp nhận sự thật, cố gắng tìm mọi cách ngụy biện che đậy, khi quá rõ ràng không còn cách nào khác thì lại dùng câu tục ngữ “đừng vạch áo cho người xem lưng” mà phải đóng góp ý kiến theo tính cách “đóng cửa bảo nhau”, như thế thì lam sao có thể nâng cao dân trí. Sự kiện này đã và đang xẩy ra nhan nhản hàng ngày trong mọi sinh hoạt, mọi lãnh vực, từ những diễn đàn điện tử, sinh hoạt bên ngoài cộng đồng và nhiều nhất là trên các diễn đàn Paltalk. Điều này chẳng những rất bất lợi cho công cuộc đấu tranh đi tìm một nền tự do dân chủ cho toàn dân mà còn tạo ra bằng chứng cho CSVN và đám tay sai xuyên tạc sự đấu tranh dân chủ của người Việt hải ngoại, đồng nghĩa với tố cộng cực đoan. Điều đáng buồn là dù đang sống trong một thế giới văn minh, nhưng không hiểu sao não trạng của số người này vẫn bị sơ cứng một cách quái đản như tập đoàn CSVN, nó chẳng khác nào Hồ Chí Minh trong hang Pắc Pó với câu thơ lục bát đã được lưu truyền trong dân gian:

“Trong hang Ở trong Pắc Pó chui ra....
Ngó qua, ngó lại, rồi ta chui vào...”


Đây cũng là một nan đề khó giải quyết, nếu sự kiện này không được chính đốn lại từ ý thức của mỗi cá nhân, thì làm sao có thể thuyết phục được người dân trong nước, vốn dĩ đã bị CSVN kềm kẹp, nhồi nhét từ hơn nửa thế kỷ qua, để cùng nhau đòi hỏi thực thi dân chủ và phát triển một nền dân chủ cho nước nhà....

Tóm lại, muốn có một nền dân trí cao để có thể hội nhập vào thế giới văn minh tiến bộ hôm nay và xây dựng đất nước giầu mạnh và có thể giữ gìn giang sơn bờ cõi. Điều tiên quyết là đòi hỏi phải thực thi được một nền dân chủ đích thực. Người dân phải có tự do thông tin và tự do ngôn luận. Tự do thông tin để học hỏi, nới rộng tư duy và kiến thức. Tự do ngôn luận để có thể mạnh dạn cống hiến ý thức và tài năng xây dựng quốc gia. Từ đó dân trí sẽ tự động phát triển và sẽ vực dậy được sức mạnh của toàn dân để bảo vệ giang sơn bờ cõi.

Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

-Phạm Thanh Phương (Úc Châu)-


Theo tin RFA, Ngày 18-11- 2008, [1] CSVN một lần nữa lại lên tiếng kêu gọi sự hợp tác của “Trí Thức Việt Kiều” về nước cùng nhà nước xây dựng đất nước. Sự kiện này thực ra cũng không có gì gọi là sáng kiến mới lạ, nói chỉ là một “Bổn cũ soạn lại” trong một tình huống mới đã cho tay sai lũng đoạn, tuyên truyền, và hy vọng lần này có thể thực hiện được những mong muốn đã thất bại trong nhiều năm qua.

Ngược dòng thời gian, biết bao nhiêu nghị quyết, quyết định với những lời lẽ rất nồng nàn, kêu gọi khối người Việt hải ngoại "khép lại quá khứ, xóa bỏ hân thù" để bắt tay với Đảng và nhà nước qua chiêu bài “giữ gìn bản sắc văn hóa và cải tiến dân sinh”. Đảng cũng thành lập những “Hội Thân Nhân Việt Kiều” tại quốc nội, nhằm ”khuyến khích” những người có thân nhân tại nước ngoài, cố gắng khuyên nhủ thân nhân mình về du lịch, làm thương mại, đóng góp tài năng hay từ thiện để phát triển đất nước, nhưng kết quả “cốt khỉ vẫn hoàn cốt khỉ”, chẳng có gì thay đổi.

Cũng trong những năm gần đây, vào ngày 14 tháng 3 năm 2005, Tạ Nguyên Ngọc, vụ trưởng Vụ quan hệ kinh tế khoa học và công nghệ, Ủy Ban Về Người Việt ở nước ngoài đã cho biết:

"Tôi cho rằng vận động người VN ở nước ngoài là cuộc vận động quần chúng đặc biệt, trí vận lại càng đặc biệt hơn. Chính vì thế nếu không có hình thức tổ chức, cách tiếp cận phù hợp thì không thể tạo dựng được quan hệ và huy động sự đóng góp của trí thức kiều bào cho công cuộc xây dựng đất nước"...[2]

Ngược lại, cũng trong thời điểm ấy, trong nghị quyết nhân quyền cho VN, Quốc Hội Âu Châu đã xác định:

"VN Không thể phát triển bất cứ lãnh vực nào khi không có dân chủ". [3]

Họ đòi hỏi CSVN phải thực sự có dân chủ, phải có đa đảng, phải trả lại quyền "Tự Do cho Tôn giáo và Báo Chí,v,v,....”. Trước nhận định quan trọng và chính xác của Quốc hội Âu Châu, CSVN vẫn tảng lờ coi như không có gì xẩy ra, tiếp tục tung một số tay sai tại hải ngoại tuyên truyền bịp bợm “Với một hoàn cảnh đói khổ khó khăn, dân trí thấp, chưa thể có dân chủ, có đưa dân chủ đến, cũng không có lợi mà chỉ tạo thêm rối loạn. Dân chủ chỉ có thể tồn tại ở những nơi dân trí đã cao”. Vì vậy trước mắt chúng ta hãy “khép lại qúa khứ, đầu tư và làm từ thiện thật nhiều, trí thức hải ngoại nên trở về cộng tác tiếp tay với nhà nước CSVN, cùng cải tiến dân sinh, nâng cao dân trí. Một khi dân sinh được nâng cao, dân trí sẽ phát triển và đó chính là lúc hạt giống dân chủ nẩy mầm và lớn mạnh để đi đến một cuộc đại cách mạng, thay đổi bộ mặt chính trị và quang phục quê hương”.

Với những lý luận trên, mới nghe rất êm tai và hữu lý. Tuy nhiên nếu suy nghĩ thêm một tí, chắc chắn ai cũng sẽ nhận ra đây chỉ là những ngụy biện, bịp bợm. Một khi đất nước chưa có dân chủ, người dân chưa có tự do thông tin, tự do ngôn luận, thì làm sao có cơ hội tự do tìm hiểu để phát triển dân trí. Như vậy, nếu lực lượng trí thức đổ về “phục vụ quê hương” trong lúc này, chẳng khác nào tiếp tay, củng cố cho chế độ độc tài toàn trị CSVN thêm sức mạnh để tiếp tục khống chế, bóc lột, buôn dân bán nước, còn lại người dân dù có đủ miếng ăn một ít, nhưng kiếp người nô lệ cũng chẳng hề thay đổi. Chính vì thế trước lời kêu gọi này của CSVN, một trí thức tại Canada nhận định

"Tôi nhận thấy rằng lúc này chưa phải là lúc mà ngừơi Việt trí thức hải ngọai có thể về Việt Nam để mà đóng góp, bởi vì Việt Nam hiện giờ vẫn chưa có sự an toàn trong vấn đề tự do, chưa có những quyền tự do căn bản để quyết định; hoặc là được tự do làm việc theo sáng kiến."

Trong khi đó Tiến sĩ điện tử Phùng Thanh Sơn ở Mỹ cũng cho biết:

"Chính quyền Việt Nam cần phải thực sự muốn thay đổi, chứ đừng lợi dụng trí thức Việt kiều.... Chính quyền Việt Nam có sẵn sàng cho trí thức Việt kiều có tiếng nói trong việc xây dựng đất nước hay không?... “.

Cũng trong vấn đề này, Gs Vũ Quốc Thúc tại Pháp nhận định:

"Tôi thấy điều căn bản là phải có tự do đã. Tự do thông tin, tự do tìm hiểu, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do viết báo chí, tự do hội họp."

Đúng như lời nhận định của Gs Vũ Quốc Thúc, một đất nước không có tự do, nhất là phần tự do báo chí và tự do ngôn luận như Việt Nam hiện tại, thì dù các trí thức hải ngoại có đổ tâm huyết, tài năng về cống hiến cho đất nước cũng chỉ là làm cái công việc của “Dã Tràng xe cát” và vô tình lại trở thành tai sai của tập đoàn tài, khát máu, bán nước hại dân CSVN.

Nhìn lại trong những năm vừa qua, có lẽ ai cũng biết, hết Nghị Quyết 114, Quỹ Yểm Trợ Cộng Đồng, Hội Thân Nhân Việt Kiều, rồi lại đến Nghị Quyết 36,v,v... Trong những chiến dịch này, CSVN cũng đã chiêu dụ được một số cá nhân, phe nhóm, đảng phái “thối rữa lương tri” đã uốn lưng làm tay sai trong công tác thâm nhập, lũng loạn và khuynh loát trong một số cơ cấu tổ chức, sinh hoạt trong cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại, và cũng có một số "chuyên gia trí thức" đánh trống, khua chiêng về "giúp nước" theo kiểu cò mồi. Nhưng kết quả vẫn không có gì gọi là khả quan như nhận định của CSVN đã đưa ra:

“Tính đến năm 2008, số lượng chuyên gia về nước làm việc hàng năm chỉ khoảng 100 người, trong khi tổng số chuyên gia Việt kiều ở nước ngoài hiện giờ lên đến khỏang gần 400 ngàn”.

Với một con số khiêm nhường này, CSVN vẫn chưa dám nói sự thật là sau khi một số về làm việc, họ đã thất vọng và ra đi, chỉ còn lại số cò mồi dùng làm bình phong bịp bợm cho chê độ.

Cũng trong cuối Tháng Sáu 2008 vừa qua, Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng CSVN đã đưa ra một chỉ thị mang số 19, [4] nội dung "sẽ khen thưởng kịp thời đối với kiều bào có thành tích đóng góp cho đất nước" và "phát huy tiềm năng tri thức và kinh tế" của người Việt hải ngoại. Ngoài ra trong cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 10-7-2008, Bộ Ngoại Giao CSVN cũng cho biết,

"Sẽ tổ chức một hội nghị của người Việt ở nước ngoài trên toàn thế giới vào năm 2009 để "gắn kết" Việt kiều với nhau và với đất nước".

Tuy những lời “tha thiết” này đã được lập đi lập lại nhiều năm, nhưng trên thực tế kết qủa vẫn như một tiếng chuông ngân dài trên sa mạc, không kết qủa phản hồi.

Nhìn vào thực tế, có lẽ không ai có thể phủ nhận, đối với một người Việt Nam yêu nước, thương dân, khi được đem tài năng ra phục vụ trên quê hương mình có lẽ là một điều hạnh phúc nhất, dù có phải hy sinh ít quyền lợi bản thân. Vấn đề được đặc biệt quan tâm ở đây là sự hy sinh của họ có đem lại được hạnh phúc thực sự cho người dân hay không, khi một khi chế độ dã man, thối nát CSVN vẫn còn tồn tại.

Tục ngữ Việt Nam có câu "Quốc gia hưng, vong, thất phu hữu trách", vì thế cái mục tiêu chính yếu của một trí thức chân chính là làm sao tạo được sự tự do, tự tại, ấm no hạnh phúc cho dân tộc để phát triển đất nước một cách đích thực, không phải chỉ là những hình thức bịp bợm. Như vậy, thiết nghĩ chỉ khi nào CSVN biết ý thức, trả lại quyền tự quyết cho toàn dân, để có được một nền tự do dân chủ thực sự, lúc ấy có lẽ không cần ai kêu gọi, chiêu dụ, chắc chắn các chuyên gia trí thức cũng sẽ tự động xin về phục vụ trên quê hương. Ngược lại, một khi đất nước còn đang đau khổ, người dân còn lầm than, đói rách bởi chế độ phi nhân, bạo ngược, thì CSVN có dùng mọi thủ đoạn lừa bịp gì chăng nữa, cũng chỉ làm cái công việc "Dã tràng se cát" mà thôi.

Cũng trong vấn đề này, có nhiều người cho rằng, chương trình chiêu dụ "thu hút tài năng" của CSVN không phải thực sự muốn phát triển đất nước như lời kêu gọi, mà đây chỉ là một vở tuồng chính trị với nhiều mục đích khác nhau. Nếu chẳng may vì một lý do nào đó, một số trí thức "thiêu thân" bay về với đảng, tất nhiên đảng sẽ lợi dụng sự kiện, tuyên truyền tạo dựng một tiếng vang trước nhãn quan quốc tế là nhà nước CSVN đã có một chính sách đứng đắn, nhiệt tâm vì quê hương đất nước và đang trong sạch hóa xã hội, "tiến nhanh, tiến mạnh" trên con đường "dân chủ hóa" đất nước. Từ đó, CSVN cho đám đảng phái tay sai gia tăng đánh phá tại hải ngoại, để các thế lực đấu tranh càng ngày càng yếu và đi đến triệt tiêu, bởi lòng người mỗi ngày một chán ngán và mất hẳn niềm tin trong đấu tranh. Ngoài ra, những "trí thức" này sẽ đóng một vai trò không kém quan trọng hậu thuẫn trong lãnh vực bang giao, bởi họ chính là những người mang quốc tịch sở tại nơi họ đang sống. Đến khi mọi việc đã ổn định đi vào "quỹ đạo" vững trãi, có thể những "trí thức" này sẽ là những nạn nhân thê thảm nhất trong chính sách "vắt chanh bỏ vỏ" sở trường của CSVN như đã xẫy ra rất nhiều trên dòng lịch sử gần nửa thế kỷ qua.

Tóm lại, muốn phát triển dân sinh, nâng cao dân trí cho dân tộc, có lẽ không còn con đường nào khác hơn là chế độ thối nát, tàn bạo CSVN phải ra đi. Ngược lại, khi CSVN còn thống trị trên quê hương thì có giúp gì đi chăng nữa cũng chẳng khác nào công việc của Dã Tràng. Theo tình hình hiện tại, trước sức ép của Quốc Tế, các cuộc phản kháng của người dân trong nước. Chúng ta cần sáng suốt hơn trong đoàn kết đấu tranh của từng cá nhân., chứ không phải là con đường từ thiện và đầu tư như CSVN và những tên tay sai rêu rao.

Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

Tài liệu tham khảo:

[1] Nhã Trân, 18-11-2008, RFA Trí thức Việt kiều nghĩ gì về việc đóng góp xây dựng đất nước?, phóng viên RFA
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Viet-overseas-intellectuals-opinions-on-Vietnamese-Govert-call-on-their-contribution-to-motherland-THoai-11182008145820.html?searchterm=None

[2]Tạ Nguyên Ngọc , 2005, Đóng góp của trí thức kiều bào: Có thể nhân lên gấp bội!, Sở Ngoại vụ - Thành phố Hải Phòng
http://haiphongdofa.gov.vn/vn/index.asp?menuid=499&parent_menuid=428&fuseaction=3&articleid=1555

[3] COMMITTEE ON INTERNATIONAL RELATIONS, 2005, HUMAN RIGHTS IN VIETNAM, GlobalSecurity.org

http://www.globalsecurity.org/military/library/congress/2005_hr/050620-transcript.pdf

[4] Chỉ thị 19/2008/CT-TTg ngày 06/06/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục tăng cường triển khai thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ về công tác với người Việt Nam ở nước ngoài, Tạp Chí Que Hương Online

http://www.quehuong.org.vn/vi/nr041215095635/nr050111144245/ns080723174221/newsitem_print_preview