"...trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng..."
- Phạm Thanh Phương (Úc Châu)-
Trong những ngày cuối năm âm lịch, người dân Việt Nam khắp nơi đang nhộn nhịp chuẩn bị đón một năm mới với những hy vọng mới đến với cuộc đời, mong rằng tất cả sẽ khá hơn, nhất là trong hoàn cảnh dân tộc Việt Nam đau khổ, đang ngụp lặn trong vũng bùn uất nhục, nhơ nhớp dưới chế độ CSVN. Trong bầu không khí nhộn nhịp ấy, một sự kiện đốn mạt, tang thương đã xẩy ra tại Giáo xứ Đồng Chiêm thuộc Huyện Mỹ Đức- Hà nội vào ngày 6-1-2010 vừa qua. Sự kiện xẩy ra thật bất ngờ, khi nửa đêm nhà nước CSVN điều động hơn 600 bộ đội, công an và chó săn đến bao vây giáo xứ, đập phá Thánh giá, xử dụng roi điện và hơi cay, gây thương tích cho một số giáo dân. Sự kiện thô bạo và mờ ám này đã chứng tỏ bản chất đốn mạt, gian ác của CSVN không thay đổi, dù có thiết lập bang giao với Toà thánh Vatican. Như vậy, khối Công giáo Việt Nam sẽ vẫn tiếp tục bị đàn áp, cướp bóc như những tôn giáo khác, một khi không chịu biến chất trở thành “Quốc doanh”, làm con rối phục vụ cho đảng và nhà nước CSVN.
Cũng trong ngày 6-1-2010 sau khi biến cố xảy ra, một thánh lễ đồng tế tại Đồng Chiêm đã được cử hành long trọng với một số Linh Mục từ Hànội về hiệp thông, cầu nguyện cho đức tin được vững vàng hơn trước những khổ nạn, uất nhục mà giáo dân Đồng Chiêm nói riêng và toàn dân tộc nói chung đang gánh chịu dưới thế lực tàn ác CSVN. Trong thánh lễ đồng tế, vị chủ tế Lm Phạm minh Triệu đã nhắn gửi rất nhiều điều quan trọng đến nhà nước CSVN, giáo dân Đồng Chiêm và có thể nói rằng những lời nói ấy như một thông điệp, trải lòng đến tất cả người dân Việt Nam chúng ta trên toàn thế giới, những người còn quan tâm, tha thiết đến tiền đồ tổ quốc và dân tộc.
Cũng trong ngày 6-1-2010 sau khi biến cố xảy ra, một thánh lễ đồng tế tại Đồng Chiêm đã được cử hành long trọng với một số Linh Mục từ Hànội về hiệp thông, cầu nguyện cho đức tin được vững vàng hơn trước những khổ nạn, uất nhục mà giáo dân Đồng Chiêm nói riêng và toàn dân tộc nói chung đang gánh chịu dưới thế lực tàn ác CSVN. Trong thánh lễ đồng tế, vị chủ tế Lm Phạm minh Triệu đã nhắn gửi rất nhiều điều quan trọng đến nhà nước CSVN, giáo dân Đồng Chiêm và có thể nói rằng những lời nói ấy như một thông điệp, trải lòng đến tất cả người dân Việt Nam chúng ta trên toàn thế giới, những người còn quan tâm, tha thiết đến tiền đồ tổ quốc và dân tộc.
Mở đấu bài giảng, Lm Triệu cho biết, người không lấy gì làm ngạc nhiên khi nhà nước CSVN có những hành vi thô bạo thất nhân tâm như vậy.Tuy nhiên,
“chỉ co điều ngạc nhiên là cái lưỡi của nhà nước này, mới lễ giáng sinh vừa qua vào toà giám mục, các nhà thờ, bắt tay, tăng hoa chúc mừng và rồi chưa đưọc hơn 10 ngày họ đã đến hạ tượng Thánh giá xuống. Đây coi như một sự sỉ nhục vào chính bản thân họ, chẳng khác nào hành động ngửa mặt lên trời nhỏ nước bọt, đó là một điều khó hiểu đối với chúnh ta”...
Về sự kiện này, thực ra cũng chẳng có gì gọi là khó hiểu, dư luận cho rằng, có lẽ vì người đã đặt niềm tin vào chuyến đi Vatican của Nguyễn Minh Triết , CSVN sẽ có một hoà hoãn, nhẹ nhàng hơn với Công giáo. Do đó, sự kiện xẩy ra đã gây cho người một chút ngạc nhiên, và cũng chính sự bấtchợt đó, người đã quên di ngôn của cố TT Nguyễn Văn Thiệu “Đừng tin những gì CS nói nà hãy nhìn kỹ những gì CS làm”, một chân lý bất khả di mà hầu như đại đa số người dân Việt đã thuộc nằm lòng, nhất là sau biến cố đau thương 30-4-1975.
Cũng trong bài giảng, Lm Triệu chia sẻ
“Đối với người Công giáo, Thánh giá là chìa khóa mở cửa thiên đàng, là lá cờ chiến thắng, là con tầu vượt qua biển đỏ.... Hôm nay, Thánh giá bị đập, chẳng lẽ chúng ta sẽ không còn chià khoá mở cửa thiên đàng, không còn con tầu để vượt qua biển đỏ hay sao...?? ... Cây thánh giá bằng gỗ, bằng sắt, bằng Ciment đã bị hạ xuống, tất nhiên sẽ có hàng ngàn hàng triệu cây Thánh giá khác sẽ được dựng lên trong lòng mỗi cá nhân chúng ta, và chính chúng ta sẽ tạo được chià khóa mở cửa thiên đàng, sẽ tạo được con tầu đưa chúng ta vượt qua biển đỏ. Đó mới là điều chúng ta phải hướng tới...”.
Nghe những lời giảng này, thiết nghĩ dù không phải là một tín đồ Công giáo, nhưng những người có tấm lòng quan tâm đến công cuộc đấu tranh chung, tất nhiên sẽ hiểu, “cây Thánh giá” trong lòng mỗi người chính là sự kiên trì đấu tranh chống lại sự dữ để vượt qua “biển đỏ” CSVN. Chỉ có sự nhiệt tâm và kiên trì trong chính nghĩa mới có thể trở thành “chià khóa mở cửa thiên đàng, là con tầu đưa chúng ta vượt qua biển đỏ...”, một cái biển khổ ải, gian truân máu lửa, không chỉ có người Công giáo đang gánh chịu mà là toàn thể dân tộc Việt Nam. Do đó, “điều chúng ta phải hướng tới” là giữ vững niềm tin, kiên trì tiếp tục đấu tranh, quyết tâm đưa đến chiến thắng loài qủy dữ. Đó chính là “chià khoá mở cửa thiên đàng” cho dân tộc.
Nói về thái độ hèn nhược, tay sai của CSVN, Lm Triệu nhắn nhủ
Nói về thái độ hèn nhược, tay sai của CSVN, Lm Triệu nhắn nhủ
“Những con cái của Chúa ngày hôm nay, quanh năm lũ lụt chưa đủ khổ hay sao mà còn bị tàn phá tâm hồn nữa... Tại sao không đi ra biên giới phương bắc mà đòi hải đảo Hoàng Sa đang bị Trung cộng chiếm đóng, các ngư dân của chúng ta đang bị đánh đập cướp bóc thì sao không lo cho họ. Tại sao lại đi đàn áp tôn giáo, từ Thái Hà, Toà Khâm Sứ, giáo xứ Loan Lý, Tam Tòa,v,v... Không chỉ có Công giáo , còn chùa Bát Nhã nữa... Và hôm nay đến lượt giáo xứ Đồng Chiêm chúng ta”.
Với những câu hỏi này của Lm Triệu, có lẽ chỉ có một câu trả lời chung CS là thế, họ chỉ là một thứ quái thú, có phải con người đâu. Bản chất của CS là chỉ biết hiếp đáp dân, đối với ngoại bang thì khiếp nhược như một cón chó ghẻ. Để nói rõ hơn bản chất CSVN, Lm Hữu chia sẻ tiếp
“ Người Việt Nam chúng ta có câu, “Khôn ngoạn đối đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”.... Trong khi đó thì luồn cúi với ngoại bang mà đi đàn áp chính đồng bào của chúng ta... Tại sao lại đưa những gánh nặng nề đau khổ đề trên những tâm hồn khao khát tự do, hoà bình với cuộc sống quanh năm lụt lội, thiên tai...”.
Với một giọng xúc cảm, Lm Triệu nói tiếp
“Chỉ có tà quyền mới làm những điều đó. Nếu là chính quyền thì không bao giờ làm những điều thất đức đó, và không bao giờ làm những điều lén lút trong bóng tối, chỉ có lực lượng của ma qủy, trộm cắp, phường cú vọ mới làm những cái chuyền mờ ám trong đêm tối mà thôi... Như vậy những sự thăm viếng nồng thắm của đêm Giáng sinh có phải chăng là những bàn tay sắt bọc nhung?....”
Trước sự kiện Đồng Chiêm, một số người cho rằng rồi cũng sẽ chẳng đi đến đâu, bùng lên rồi lại xẹp xuống như những sự kiện Toà Khâm Sứ, giáo xứ Thái Hà và một số nơi khác đã từng xẩy ra. Do đó, họ cũng không buồn quan tâm. Tuy nhiên, nếu nhìn xa hơn để thấy được con đường dài trước mặt phải đi và phải có hy vọng. Một câu hỏi được đặt ra ở đây, giả sử không có sự kiện đấu tranh của Toà Kâm Sứ , Thái Hà với thái độ cương quyết trong tinh thần “Uy vũ bất năng khuất” của Đức TGM Ngô Quang Kiệt thì thử hỏi khối Công giáo ngày nay có dám lên tiếng mạnh mẽ như Lm Nguyễn Trung Thành, Lm Nguyễn Văn Khải và giờ đây đến Lm Nguyễn Văn Hữu tại Đồng Chiêm với những lời tâm huyết và sự thật như vậy hay không?... Hơn nữa, có lẽ khó có ai có thể phủ nhận những sự kiện ấy cũng sẽ là những yếu tố dùng rèn luyện chiếc “chià khóa mở cửa thiên đàng”của dân tộc trong tương lai...
Trong tình hình hiện tại, sự kiện Đồng Chiêm có lẽ rồi cũng phải “chìm xuồng” như dự đoán. Tuy nhiên, chắc chắn một điều là dư âm của tinh thần “Uy vũ bất năng khuất” ấy sẽ được kết tinh, đọng lại mãi mãi trong lòng người Công giáo nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.... Bất cứ công cuộc đấu tranh nào cũng vậy, phải có những khởi điểm khó khăn, với những con đường chông gai máu lửa và đôi khi phải hy sinh ngay cả mạng sống. Do đó, nếu đòi hỏi thấy được ngay kết quả là một điều không tưởng, hay nói đúng hơn là thiếu viễn kiến trong đấu tranh. Hơn nữa, họ đã quên rằng dân Việt nam đang phải đấu tranh với một tập đoàn dã man tàn bạo như CSVN.
Người Việt Nam có câu “Góp gió thành bão”, những ngọn gió uất nhục, đau khổ đang thổi về từ bốn phương, tám hướng. Từ các cá nhân, tập thể đang nổ lực trong đấu tranh trong niềm tin của dân tộc, bao nhiêu người đã bị cầm tù, hành hạ như Lm Nguyễn Văn Lý, bao nhiêu người đa hy sinh, vinh viễn ra đi trong bóng tối... Chẳng lẽ tất cả đều vô ích hay sao.... Đối với một cái nhìn hời hợt, có thể chỉ thấy đây là những cơn gió nhẹ, tưởng chừng như lướt qua, rồi tan biến nơi cuối trời quên lãng. Nhưng ai có thể biết được những cơn gío ấy đang đi tìm điểm đồng quy, sẽ đồng quy ở đâu và vào lúc nào để trở thành cơn bão lớn cuốn trôi tất cả những đau thương, uất nhục của tổ quốc và dân tộc, cuốn trôi bè lũ tàn bạo, hèn nhược CSVN đưa vào hố sâu của lịch sử, xây dựng lại một nước Việt Nam thanh bình, hoan lạc...
Trong tình hình hiện tại, sự kiện Đồng Chiêm có lẽ rồi cũng phải “chìm xuồng” như dự đoán. Tuy nhiên, chắc chắn một điều là dư âm của tinh thần “Uy vũ bất năng khuất” ấy sẽ được kết tinh, đọng lại mãi mãi trong lòng người Công giáo nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.... Bất cứ công cuộc đấu tranh nào cũng vậy, phải có những khởi điểm khó khăn, với những con đường chông gai máu lửa và đôi khi phải hy sinh ngay cả mạng sống. Do đó, nếu đòi hỏi thấy được ngay kết quả là một điều không tưởng, hay nói đúng hơn là thiếu viễn kiến trong đấu tranh. Hơn nữa, họ đã quên rằng dân Việt nam đang phải đấu tranh với một tập đoàn dã man tàn bạo như CSVN.
Người Việt Nam có câu “Góp gió thành bão”, những ngọn gió uất nhục, đau khổ đang thổi về từ bốn phương, tám hướng. Từ các cá nhân, tập thể đang nổ lực trong đấu tranh trong niềm tin của dân tộc, bao nhiêu người đã bị cầm tù, hành hạ như Lm Nguyễn Văn Lý, bao nhiêu người đa hy sinh, vinh viễn ra đi trong bóng tối... Chẳng lẽ tất cả đều vô ích hay sao.... Đối với một cái nhìn hời hợt, có thể chỉ thấy đây là những cơn gió nhẹ, tưởng chừng như lướt qua, rồi tan biến nơi cuối trời quên lãng. Nhưng ai có thể biết được những cơn gío ấy đang đi tìm điểm đồng quy, sẽ đồng quy ở đâu và vào lúc nào để trở thành cơn bão lớn cuốn trôi tất cả những đau thương, uất nhục của tổ quốc và dân tộc, cuốn trôi bè lũ tàn bạo, hèn nhược CSVN đưa vào hố sâu của lịch sử, xây dựng lại một nước Việt Nam thanh bình, hoan lạc...
Nhìn vào cục diện đấu tranh hiện nay, có lẽ không một ai có thể phủ nhận công cuộc đấu tranh chung của toàn dân suốt hơn 30 năm qua đã đi từng bước rất chậm, chậm đến nỗi nhiều khi tưởng chừng như đang “dậm chân tại chỗ” . Sự trì trệ chậm chạp này đưa đến từ nhiều nguyên nhân, trong đó sự tuyên truyền và kìm kẹp bằng bạo lực đã làm cho sức đề kháng của dân tộc bị liệt hay bị chai đá trong sợ hãi. Như vậy, phải chăng những con người can đảm, chấp nhận thương đau để nói lên những điều trung thực trong hiện tại, hay những cuộc phản kháng và những lời nói của Đức TGM Ngô Quang Kiệt hay bài giảng của Dòng Chúa Cứu Thế mà CSVN đã lên án; Bài giảng của Giám mục Giuse Nguyễn Chí Linh trong đêm khai mạc lễ Năm Thánh tại Hà nội và đến nay với bài giảng của Lm Chánh xứ Đồng Chiêm Phạm minh Triệu đều là những liều thuốc hồi sinh, dùng phục hồi sức đề kháng của dân tộc trong tinh thần truyền thống “Uy vũ bất năng khuất” của lịch sử Việt Nam hay không...? Có lẽ trong chúng ta ai cũng có câu trả lời chính xác.Tóm lại, trong công cuộc đấu tranh với một thế lực hèn hạ, tàn bạo, dã man CSVN, ngoài công việc cảnh giác với những đám tay sai ”Ăn cơm Quốc Gia thờ ma CS” đang len lỏi tuyên truyền quấy phá. Điều quan trọng nhất là làm sao phục hồi được sức mạnh của dân tộc mà một số sự kiện chứng tỏ đang tiến hành, Như vậy, bài giảng của Lm Phạm minh Triệu chính là một thực thể qúy hiếm mà hầu như đa số những ngưới đang sống trong an bình, no ấm chưa phát huy được. Sau cùng, mong rằng hình ảnh và bài giảng của Lm Phạm minh Triệu sẽ như một tia sáng chiếu rọi đến khắp nơi trên thế giới, để tất cả mọi người dân Việt có thể bắt tay nhau kiến tạo được “Chìa khóa mở cửa thiên đàng” cho dân tộc hoặc tạo dựng được chiếc tầu đưa dân Việt Nam vượt qua biển đỏ CSVN.
Phạm Thanh Phương (Úc Châu)
Tài liệu Đính Kèm:
Bài Giảng Lm Phạm minh Triệu
-Phạm thanh Phương-
Vừa bắt đầu vào năm mới, một sự kiện đã xẩy ra có thể gọi là đặc biệt mà một số dư luận cho đã cho rằng đây dịp CSVN thể hiện sự “Lễ độ” tuyệt hảo trong tinh thần “16 chữ vàng và 4 tốt” sẽ được hai nước Việt -Trung cử hành trọng thể để đánh dấu 60 năm “Hữu nghị” trong năm nay như Nguyễn Tấn Dũng v à Ôn Gia Bảo đã tuyên bố tại Bắc Ngao trong năm qua. Hơn nữa, dư luận cũng cho rằng, sự kiện bộ đội biên phòng bắt một số trong 40 chiếc tàu đánh cá Trung cộng, lập biên bản trước khi cho về cũng là một hành động rất “anh dũng” nhằm xác định chủ quyền Việt Nam trên biển Đông và cũng là một bài học “Thế nào là lễ độ” hầu có thể nhắc nhở Trung cộng nên lưu tâm nhiều hơn trong cái tình “Hữu nghị môi hở răng lạnh”, để có những hành xử thích hợp, hầu cùng làm nổi bật ý nghĩa của “16 chữ vàng và 4 tốt” mà CSVN đã và đang kính cẩn tụng niệm.
Duyệt lại tình “Hữu nghị” Việt- Trung trong thời gian một năm qua, ngoài vấn đề Trung cộng chiếm đóng Hoàng Sa và khoanh vùng biển Đông gần như chiếm lãnh toàn bộ lãnh hải Việt Nam. Đồng thời thường xuyên bắt giữ, đòi tiền chuộc, đánh đập, cướp bóc tài sản của ngư dân Việt Nam một cách rất dã man, côn đồ. Tuy nhiên, không thấy đảng và nhà nước CSVN lên tiếng phản bác hay bày tỏ bất cứ một thái độ nào thể hiện sự bất bình, mặc dù toàn dân trong cũng như ngoài nước, hầu như ai cũng thấy đó là những sự kiện nhục quốc thể và là một mối đe dọa đến sự tồn vong của tổ quốc. Chẳng những thế, cái quyền được nhục cuả người dân cũng bị đảng và nhà nước tước đoạt một cách trắng trợn, chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Vì vậy, bất cứ ai lên tiếng bày tỏ sự uất ức, nhục nhã về sự những sự kiện này, đều được đảng và nhà nước quy vào tội “phá hoại nền an ninh quốc gia”, xử lý nghiêm ngặt bằng những bản án nặng nề, khủng bố hay cầm tù. Để lý giải cho những hiện tượng nêu trên, một số dư luận từ đảng và nhà nước đưa ra cho rằng, vì muốn thực hiện đúng nghĩa tình “Hữu nghị” một cách “nghiêm túc”, nên đảng và nhà nước CSVN không muốn làm mất lòng “anh em, láng giềng” nên “Gặp thời thế, thế thới phải thế” mà thôi, “Thân bất do kỷ” mà, biết sao bây giờ. Hơn nữa, trong tinh thần hữu nghị “Núi liền núi, sông liền sông” tất cả đều là của chung, không có vấn đề gì quan trọng đề phải ồn ào. “Hôm nay, anh em mình cần thì xử họ dụng, mai một tính sau... có mất cũng mất vào tay anh em mình thôi, có phải người ngoài đâu mà tính toán, lo sợ”.
Đồng thuận với những lý giải trên của đảng và nhà nước CSVN, một số dư luận cho rằng, hành xử của đảng và nhà nước CSVN không phải là thái độ hèn mạt của những tên tay sai như đại đa số nhận định. Ngược lại, sự im lặng trước những đau khổ của ngư dân khi bị hành hạ cướp bóc, trước nỗi nhục quốc thể ấy chỉ là hành xử “cực kỳ văn hoá” của “đỉnh cao trí tuệ” mà thế gian này hiếm ai có thể hiểu được. Ngoài ra, qua sự kiện bộ đội biên phòng CSVN chỉ bắt giữ, lập biên bản và tha số tầu ngư dân Trung cộng vi phạm lãnh hải Việt Nam chỉ là thể hiện sự khôn khéo đầy nhân tính, đề cao ý nghĩa của nhân bản “Lấy chí nhân thay cường bạo” hầu thức ngộ lòng người. Đồng thời cũng thể hiện được cái tinh túy trong tinh thần “16 chữ vàng và 4 tốt” một cách trân trọng triệt để như một điểm son, dùng tô điểm thêm cho ngày kỷ niệm 60 năm “Tình hữu nghị môi hở, răng lạnh” Việt- Trung thắm thiết hơn, đẹp đẽ hơn. Ngoài ra, hành xử của bộ đội biên phòng cuả CSVN được xem là một thái độ rất đúng đắn, bởi lẽ “Kim vàng ai nỡ uốn câu. Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời” huống chi trong cái tình “hữu nghị” mà lại dùng những biện pháp mạnh, tất sẽ không hay, mất đi cái nghĩa “quân tử” của Khổng học, đã du nhập vào nước ta cả mấy ngàn năm qua.
Tuy nhiên đại đa số lại cho rằng, dù có nói gì chăng nữa, và nếu có thể gom tất cả chữ nghĩa của thế gian, có lẽ cũng không thể nào biệm minh, che lấp được cái bản chất vong nô của CSVN. Nếu nói rằng CSVN đang thể hiện mẫu người “quân tử” của Khổng học thì chẳng lẽ mả Khổng Tử chỉ vượng ở Việt Nam, còn cái gốc rễ bên Tầu lại bị mục nát, thối rữa từ rồi hay sao?. Về điều này, nếu chịu khó bình tâm suy nghĩ một tí, tất sẽ thấy những hành xử trong cái tình “Hữu nghị, sông liền sống, núi liền núi” nêu trên của cả hai bên CSVN và Trung cộng, thì chắc chắn phải nói mả Khổng Tử đã vượng cả hai nơi Hoa - Việt mới đúng. Bởi lẽ, hành xử thô bạo, trịch thượng của Trung cộng và sự nhũn nhặn, kính cẩn đến hèn mạt cuả CSVN chẳng qua chỉ là hai bên đang thực hiện cái đạo Tam Cương qua câu “Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu... Quân xử thần tử, thân bất tử bất trung” mà thôi.... Đi ngược dòng lịch sử CSVN từ hơn nửa thế kỷ qua cho đến bây giờ, có lẽ khó có ai có thể phủ nhận sự liên hên giữa CSVN đối với Trung cộng tựa như cái đạo Tam Cương trong Khổng học, trong đó Trung cộng tượng trưng cho “Quân- Sư- Phụ”, CSVN tượng trưng vai trò củ “Thần- Tử”. Nếu nói một cách bình dân dễ hiểu hơn thì đây là sự liên hệ chủ tớ, hay chính xác hơn nữa là sự liên hệ ông chủ Trung cộng và con “chó ngoan” CSVN, không hơn, không kém.
Cũng trong chiều hướng này, đại đa số nhận định, nếu xử dụng câu “Kim vàng ai nỡ uốn câu. Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời” trong trường hợp này có vẻ hơi cọc cạch một chút, nói thế chẳng hoá ra CSVN là loại ngu độn, còn Trung cộng mới là kẻ khôn, là một loại “kim vàng”, cũng có lẽ vì vậy ngư dân của họ mới hãnh diện, hiên ngang xâm phạm lãnh hải Việt Nam một cách rất ư là tự nhiên, bởi họ biết được đám đầy tớ CSVN sẽ không bao giờ dám dùng “kim vàng” của ông chủ để “uốn câu” một cách bừa bãi, ngược lại lúc nào cũng phải kính trọng nâng niu. Hơn nữa, ngư dân Trung cộng cũng biết chắc rằng CSVN sẽ không dám có thái độ gì, dù họ có ngang ngược xâm phạm đến đâu chăng nữa , thì vẫn an toàn thong dong, cùng lắm chỉ dám “lập biên bản” cho vui rồi tiễn chân ra về an toàn, không thể xẩy ra những cảnh tượng đốn mạt như Trung cộng đã đối xử với ngư dân Việt Nam trong năm qua. Chẳng những thế, họ còn biết được dù hoàn cảnh có ra sao chăng nữa thì chắc chắn CSVN vẫn phải “hồ hởi” tung hô “6 chữ vàng và 4 tốt” như một cái máy, như đã từng thực hiện từ hơn nửa thế kỷ qua... Ngược lại, dưới mắt Trung cộng thì bè lũ CSVN chỉ là một loại tay sai ngu xuẩn, nên ngư dân Việt Nam mới phải gánh chịu những nhục nhã, nghiệt ngã đắng cay.
Song song với những nhận định trên, đa số cũng cho rằng, nếu lý luận thái độ và hành xử của CSVN qua sự kiện 40 ngư thuyền Trung cộng xâm nhập lãnh hải vừa qua là mang ẩn ý dùng sự “lễ độ” thức ngộ lòng người thì lại càng khôi hài và ấu trĩ, mà phải nói CSVN đang thực hiện hai chữ “lễ độ” mà ông chủ Trung cộng đã dạy dỗ đầy tớ rất cẩn thận mới đúng. Một điều trái khoáy khác, khi cho rằng CSVN đang thực hiện lời cụ Nguyễn Trãi để “Lấy chí nhân thay cường bạo” lại cả một sự mâu thuẫn không thuyết phục được ai, kể cả những trẻ em thuộc lớp tuổi mần non, đang bập bẹ trong ngưỡng cửa học đường.... Một câu hỏi được đạt ra ở đây, “Chí nhân” ở đâu ? Trong khi cả thế giới ai còn lạ gì cái thú tính của CSVN đối với người dân Việt trong mọi lãnh vực. Một loại máu lạnh chỉ biết cướp bóc, đàn áp, giết chóc thì có lẽ một tí nhân tính cũng khó có thể tồn đọng trong họ, vậy tìm đâu ra “Chí nhân” bây giờ. Do đó, nếu áp dụng hai chữ “Chí nhân” ở đây thì e rằng lại chứng tỏ thêm một điều ngu xuẩn, vô tình hay cố ý lại vướng vào cái tội đang phỉ báng cụ Nguyễn Trãi và nền văn hóa truyền thống của lịch sử Việt Nam với hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước. Vì vậy đại đa số nhận định, nếu muốn chính xác có lẽ trong ngôn ngữ Việt Nam không còn chữ nào hơn và đầy đủ ý nghĩa hơn ngoài bốn chữ “Chí ngu, chí hèn” đối với hành xử vong nô cuả CSVN trong cái gọi là tình “Hữu nghị Việt -Trung môi hở răng lạnh” mà CSVN đã và đang kính cẩn thi hành từ 60 năm qua.
Tóm lại, trong năm mới tất nhiên sẽ có nhiều sự liện mới và có thể CSVN sẽ có những thủ đoạn mới mẻ tinh vi hơn, hầu mong ru ngủ được nhiều người và biến cộng đồng người Việt tỵ nạn CS vô tình trở thành thần dân của chế độ, triệt tiêu ngọn lửa đấu tranh trong toàn dân, hầu mong có thể phát triển sự nghiệp tay sai, buôn dân, bán nước của tên đồ tể Hồ Chí Minh để lại một cách hoàn hảo hơn. Do đó, cũng trong năm mới, mong rằng người Việt tỵ nạn chúng ta cảnh giác hơn nữa, hầu có thể đập tan tất cả những âm mưu lũng đoạn, tuyên truyền bịp bợm như “CSVN đã biết nghĩ đấn tiền đồ của tổ quốc và dân tộc, đang mua vũ khí, củng cố quốc phòng, để chống lại Trung cộng, đòi lại Hoàng Sa va Trường Sa,v,v... Như vậy, vì tình yêu tổ quốc, vì tiền đồ dân tộc, cộng đồng người Việt tỵ nạn nên đem tình yêu đánh đổ hận thù, cùng hợp lực chống ngoại xâm và canh tân đất nước..”,v,v... Ngược lại, nên nhìn vào thực tế để thấy được Việt Nam không bao giờ có thể dùng vũ lực để chống lại Trung cộng, mà chỉ có thể dùng sức mạnh của dân tộc như đã chứng minh trên suốt dòng lịch sử của tiền nhân. Chỉ khi nào đất nước thực sự tự do, dân chủ, người dân Việt Nam có đầy đủ cái quyền làm người. Lúc đó mới mong có một sự kết hợp đúng nghĩa để có được một sức mạnh, bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước. Một khi những điều kiên này chưa thoả, có nói gì chăng nữa cũng chỉ là một sự lừa bịp.
* Phạm Thanh Phương (Úc Châu)
-Phạm thanh Phương-
Trong những ngày gần đây, sự kiện CSVN thông báo mua một số vũ khí và tầu ngầm của Nga đã trở thành một đề tài khá sôi động trong dư luận người Việt Nam, và một số nhà bình luận trê thế giới. Trong sự kiện này, một số người cho rằng đây là một điểm đáng mừng, chứng tỏ CSVN đã ý thức tầm mức quan trọng sự tồn vong của tổ quốc để có thể lột xác, từ biệt cái bản chất vong nô, trở thành một con người đúng nghĩa. Vì thế, việc CSVN củng cố quân sự được đánh giá như là một thông điệp ngầm, xác định chủ quyền đất nước, đặc biệt là lãnh vực biển Đông đang bị Trung cộng xâm lăng và khống chế, trong đó quan trọng là vấn đề Hoàng sa và Trường sa. Hơn nữa, đây cũng là một thách thức, một trở ngại lớn với Trung cộng. Ngược lại, đại đa số dân Việt và một số bình luận khác lại cho rằng, việc mua thêm vũ khí của CSVN cũng chẳng có gì gọi là ngạc nhiên với hai lý do. Thứ nhất, hệ thống quân sự của CSVN quá lạc hậu so với một số nước trong vùng, nên việc bổ xung, phô trương cho coi được một chút, cũng cần phải có. Thứ hai vì áp lực chính trị, CSVN bắt buộc phải mua một số vũ khí thặng dư từ các nước đàn anh thải ra, dù biết hoàn cảnh sẽ trở nên phức tạp, khó khăn hơn.
Để đi sâu vào vấn đề, có lẽ ai cũng hiểu Trung cộng đã và đang tăng cường quân sự từ nhiều năm qua, và tiềm năng quân sự của Trung cộng có thể nói là một trong những siêu cường trên thế giới. Nếu đem so sánh lực lượng quân sự của CSVN với Trung cộng thì chẳng khác nào đem một cậu bé tí hon so sánh một người khổng lồ. Vì thế, nếu nói rằng CSVN dùng vũ trang để chống lại Trung cộng và giành lại chủ quyền là một điều không tưởng. Điều này tờ nhật báo “South China Morning Post” xuất bản tại Hong Kong cũng đã nhận định rõ:
“Tầm vóc của Trung quốc khiến toàn bộ Á châu, kể cả Nhật và Ấn Độ đều không thể so sánh.... dù là 20 hay 30 năm nữa...”.
Cũng trong sự kiện này, ông Xu Guangyu, một viên tướng hồi hưu cuả Trung cộng nhận định:
Do đó, nhận định sự tăng cường quân sự cuả CSVN là một thông điệp xác định chủ quyền, đối đầu với Trung cộng chỉ là một điều võ đoán, hoàn toàn thiếu khả năng thuyết phục. Thực sự mà nói, nếu CSVN biết nghĩ đến chủ quyền của tổ quốc, nhận biết được cái đau của dân, cái nhục của nước thì có lẽ tình hình đã đổi khác rất nhiều từ lâu, không phải, cúi đầu, ngậm miệng làm tay sai cho Trung cộng như hôm nay.“Tôi sẽ không ngạc nhiên, nếu các nước khác cũng bắt đầu nâng cấp hạm đội của mình. Đa phần hải quân các quốc gia trong khu vực đều làm thế và có thể hiểu được điều này...”.
Nếu đi ngược dòng lịch sử từ cổ chí kim, từ đông sang tây, tất nhiên ai cũng thấy việc xác định chủ quyền và giữ gìn bờ cõi của một quốc gia, không đơn thuần chỉ là sức mạnh quân sự, mà yếu tố then chốt vẫn là sức mạnh tinh thần của dân tộc họ. Nếu chỉ dựa vào sức mạnh quân sự, thì thử hỏi các nước bé, yếu về quân sự trên trái đất này đều bị diệt vong hết hay sao, và như thế đất nước Việt Nam cũng đã bị xóa sổ trên nền trời quốc tế từ cả ngàn năm trước, và bây giờ cũng chẳng còn gì để trăn trở, ưu tư. Có lẽ không cần phải nghiên cứu đâu xa, chỉ cần đi ngược dòng lịch sử của dân Việt, với hàng ngàn năm đánh nhau với Tầu, cả trăm năm đánh nhau với Tây, có khi nào lực lượng Việt Nam có thể đứng ngang hàng với địch không, hay luôn luôn nằm trong thế yếu. Tuy vậy, nhưng tại sao đất nước và dân tộc vẫn tồn tại cho đến hôm nay, điều này có lẽ ai cũng có câu trả lời chính xác,chính là nhờ vào sức mạnh của dân tộc, được kết tinh từ ý thức quê hương... Một chính quyền hay một triều đại biết yêu dân, yêu nước, chắc chắn sẽ có sự hoà đồng, kết hợp được lòng người để tạo thành sức mạnh. Từ đó, khi cần phải hy sinh, tất cả cũng sẽ sẵn sàng một lòng như hình ảnh một “Hội Nghị Diên Hồng” khi xưa trong đời nhà Trần. Ngược lại, một triều đại gặp phải Hôn Quân, chỉ biết hà hiếp bóc lột dân, củng cố quyền lợi cá nhân hay một phe nhóm, thì làm sao có thể kết hợp được lòng người để ch chống ngoại xâm, và như thế cái họa diệt vong rất khó có thể tránh được khi bị cường địch xâm lăng.
Trở lại hoàn cảnh đất nước Việt Nam trong hiện tại, dưới một chế độ vong nô, tàn bạo CSVN, người dân chỉ được coi như một thứ nô lệ hay một công cụ dùng phục vụ đảng. Đảng khống chế bóc lột, đè nén trăm chiều và đưa đến cả một xã hội đói rách, băng hoại đến cùng cực. Như vậy, thử hỏi làm sao có thể vực dậy tiềm lực của dân tộc dùng làm sức mạnh bảo vệ tổ quốc. Hơn nữa, với bản chất vong nô vốn dĩ, CSVN không thể có được một ý thức quê hương mà chỉ biết cúi đầu làm tay sai như một con chó ngoan dưới chân ông chủ, thì dù có trang bị gì đi nữa cũng chỉ là tay sai, dùng bảo vệ cho quyền lợi của ông chủ mà thôi. Vậy thử hỏi chủ quyền ở đâu? Bằng chứng cho thấy, khi Trung cộng xâm lăng và chiếm đóng biển Đông, người dân uất ức, bày tỏ lòng căm phẫn, CSVN thẳng tay đàn áp, bắt bớ, và đến bây giờ bất cứ ai nhắc đến sự kiện xâm lăng của Trung cộng, đều bị quy vào tội “Phá hoại nền an ninh quốc gia” để được trù dập, ngồi tù một cách danh chính ngôn thuận.
Ngoài ra, mới đây tại điễn đàn Á châu ở Bắc Ngao, để đánh dấu 60 năm tình thầy trò, nghĩa chủ tớ, Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN và Ôn Gia Bảo, Thủ tướng Trung cộng đã đồng tuyên bố "nhất trí chọn năm 2010 làm Năm hữu nghị Việt - Trung". Một cái tình “Hữu nghị” quái đản chưa từng thấy trên dòng lịch sử của thể giới, kể cả từ cổ chí kim, nhưng lại xuất hiện trong chế độ CSVN từ 60 năm qua. CSVN lúc nào kính cẩn tụng cái tình “hữu nghị” quái đản này như một cái máy qua châm ngôn “16 chữ vàng” và tinh thần “bốn tốt”. Nhưng rất tiếc những điều này chỉ áp dụng cho bè lũ vong nô CSVN như một loại kinh nhật tụng, để ghi nhớ bổn phận phải thi hành đúng mức "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" và "láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt". Còn lại đối với Trung cộng chỉ có trách nhiệm giám sát xem CSVN có ngoan ngoãn “chấp hành nghiêm chỉnh” hay không mà thôi. Bởi vậy, cũng không ai ngạc nhiên với sự lộng hành của Trung cộng đối với Việt Nam từ nhiều năm qua, họ thích lấy đất biển thì cứ lấy một cách tự nhiên, thích bắt bớ cướp bóc, hành hạ ngư dân Việt Nam thì cũng cứ làm, không cần phải e ngại điều gì. Bằng chứng cho thấy trong cơn bão số 9 vừa qua, khi 17 chiếc tầu đánh cá cùng 200 ngư dân Việt Nam xin tấp vào khu vực Hoàng sa để tránh bão và đã bị đuổi quân Trung cộng bắn đuổi, sau khi CSVN năn nỉ được cho vào và sau khi hết bão ra đi, 17 chiếc tầu đánh cá này cũng không thoát khỏi cái cảnh bị đánh đập, cướp bóc dã man từ phiá Trung cộng. Tuy thế, phía CSVN cũng chỉ biết câm miệng, coi như không có việc gì xẩy ra. Cùng trong thời điểm ấy, 2 chiếc tầu mang 13 ngư dân Trung cộng bị mất tích tại vùng Bạch Long Vĩ thì Bộ Ngoại Giao Trung cộng đã đánh điện “yêu cầu giúp đỡ” và CSVN tức tốc đưa 4 chiến hạm lên đường thi hành nhiệm vụ. Như vậy, chủ quyền ở đâu, dân tộc và tổ quốc là cái gì đối với CSVN, có lẽ ai cũng rõ.
Tóm lại, sự kiện CSVN tăng cường quân sự thực sự không phải là để xác định chủ quyền quốc gia hay đối đầu với Trung cộng như một số người nghĩ, mà đây cũng chỉ là một chiêu bài chính trị, một mặt bịp dân, một mặt giải quyết mớ hàng thặng dư cho quan thầy mà thôi. Còn lại bản chất vong nô, vẫn là vong nô, không thay đổi. Tuy nhiên, CSVN cũng sẽ phải mua thêm một vài thứ khác của phe tư bản để che đậy sự thật của bản chất... Một điều quan trọng cần ghi nhớ là muốn bảo vệ đất nuớc và giữ vững chủ quyền nước, điều kiện tiên quyết chính là sức mạnh của dân tộc, muốn vực dậy đưọc sức mạnh của dân tộc, chắc chắn CSVN phải ra đi.
Một đất nước mà guồng máy lãnh đạo toàn một lũ vong nô hèn nhược “Ngu nhà Dại chợ” như CSVN thì dù có trang bị vũ khí tối tân đến đâu chăng nữa cũng vô ích, nguy cơ diệt vong lúc nào cũng đe doạ bên cạnh và sẽ thành sự thật trên mọi hình thức.
* Phạm Thanh Phương (Úc Châu)
Phạm Thanh Phương (Úc Châu)
Theo tinh thần Hội Nghị những quốc gia tài trợ cho Việt Nam tại Hànội trong hai ngày 3-4 /12/2009, đã cam kết tài trợ cho CSVN một số ngân khoản đáng kể khoảng 8 tỷ USD, trong đó 6 tỷ là cho vay và số con lại gần 2 tỷ là viện trợ. Tuy đã cam kết tài trợ, nhưng đa số đại diện các quốc gia hiện diện cũng tỏ ra rất quan ngại về một số vấn nạn quan trọng tại Việt Nam như tham nhũng, tự do thông tin và nhân quyền. Từ sự quan ngại này, một số dư luận nghĩ rằng ánh sáng của tự do và nhân quyền đang bắt đầu ló dạng trên quê hương Việt Nam, và đất nước chắc chắn sẽ tươi sáng hơn dù chế độ thối nát, tàn bạo dã man CSVN vẫn tồn tại. Tuy nhiên đại đa số lại cho rằng, tất cả những nhận định của các nước tài trợ cho VN vừa qua chỉ mang tính hời hợt theo kiểu “cỡi ngựa xem hoa”, nó không thể xem như là một áp lực hay một chất liệu để có thể đốt lên một ánh sáng thực sự cho đất nước, dù chỉ là một tia sáng le lói cuối đường hầm.
Nói về sự tài trợ năm nay, theo tin nhiều nguồn tinh chính thức cho biết, Ngân hàng Thế giới cam kết tài trợ 2,5 tỷ, Ngân hàng Phát triển Á châu 1,5 tỷ. Riêng nước Nhật đã cam kết tài trợ 1. 64 tỷ và Âu Châu 1.08 tỷ. Trên lý thuyết, mục đích của số tiền tài trợ năm nay là dùng vào việc phục hồi và phát triển nề kinh tế Việt Nam vốn đã từng suy thoái nhiều năm với chính sách bè phái, bóc lột và tham nhũng của chế độ CSVN. Điều đáng chú ý ở đây là tất cả các nước tài trợ đều biết tham nhũng tại Việt Nam dưới chế độ CS được coi như là quốc sách và mức độ tăng trưởng của nó càng ngày càng cao. Nhưng họ vẫn cam kết tài trợ và cũng tỏ ra rất “tha thiết”, mong mỏi có một nước Việt Nam tiến bộ với đầy đủ tự do, dân chủ và nhân quyền như quốc gia của họ. Tuy nhiên, những nhận định và sự “tha thiết” ấy hầu như chỉ là những lời nói xuông, họ nói lên những hiện tượng hiển nhiên mà ai cũng biết, nhưng lại không thấy điều kiện nào được chính thức đặt ra, hầu có thể dùng làm áp lực, buộc CSVN phải thực hiện phần nào để có thể thực hiện những “tha thiết” của họ. Như vậy, phải chăng đây chỉ là một loại xáo ngữ, dùng vấn đề tự do, dân chủ của người dân Việt Nam như một loại trang trí trong bang giao, hay tô điểm thêm cho cái bình phong, dùng che đậy những quyền lợi tiềm ẩn bên trong. Vỉ vậy, chẳng có gì có thể gọi là ánh sáng niềm tin hay hy vọng cho đất nước.
Nhận định về việc chống tham nhũng tại VN, trong một đoạn phỏng vấn của RFA, ông Rolf Bergman, Đại sứ Thụy Điển nhận định:
" Trong cuộc chiến chống tham nhũng, để đạt được thành công cần có sự nỗ lực của tất cả mọi người dân. Chỉ có những luật lệ và quy định tốt là chưa đủ, muốn thành công cần phải có sự kết hợp tham gia của Đảng, Chính phủ, xã hội dân sự, các cơ quan báo chí và từng người dân trong xã hội.".
Với nhận định này, không ai phủ nhận đây là vấn đề then chốt rất tốt đẹp, nhưng chỉ mang tính lý thuyết, còn lại thực tế không bao giờ có thể thực hiện. Một guồng máy mà tất cả sinh hoạt xã hội đều nằm trong tay đảng, đảng kiểm soát mọi mặt kể cả hệ thống tư duy của từng người dân, thì thử hỏi làm sao có thể tìm được “sự nỗ lực của tất cả mọi người dân” hay “sự kết hợp tham gia ... của xã hội dân sự, các cơ quan báo chí và từng người dân trong xã hội." như ông Rolf Bergman nhận định. Có chăng chỉ nói để mà nói cho vui như những câu chuyện huyền thoại trong dân gian.
Nói đến hệ thống tham nhũng của CSVN, hầu như ai cũng biết nó không khác nào một loại bệnh ung thư đã đến thời gian hết thuốc chữa. Nếu nhìn kỹ vào bối cảnh của đất nước, có lẽ không ai có thể phủ nhận những kẻ đang hô hào chống tham nhũng lại là những thủ phạm chính hay nói đúng hơn là những “đại gia” đã tạo ra và nuôi dưỡng mạng lưới tham nhũng. Hơn nữa, chính họ là những kẻ đang nắm quyền sinh sát, thao túng đất nước từ những vai trò Chủ tịch nước, Tổng bí thư , Thủ tướng và những nhân vật then chốt trong bộ chính trị trung ương đảng. Từ đó, tham nhũng tại Việt Nam hiện tại chẳng khác nào một mạng lưới được đan bằng một chất liệu rất bền chặt từ trung ương đến địa phương. Tất cả những chương trình hay biện pháp chống tham nhũng được đưa ra, chẳng qua chỉ là những trái khói mù bịp bợm. Vì vậy, những nhận định của các nhà tài trợ cho VN cũng chỉ có thể tạo một lớp sơn, vẽ vời sự hợp lý trong bang giao hầu che phủ những quyền lợi của họ, nó không có gì để có thể cho rằng là những dấu hiệu ánh sáng tự do, nhân quyền đang ló dạng trên đất nước Việt Nam.
Xoay quanh sự kiện, các nước tài trợ cho Việt Nam hầu như cũng tỏ ra quan tâm nhiều đến lãnh vực thông tin và họ cho rằng một hệ thống thông tin tự do sẽ đưa đất nước đến sự ổn định và phát triển. Trong lãnh vực này, ông Michael Michalak, Đại sứ Hoa kỳ tại Việt Nam nhận định “tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội đòi hỏi môi trường lành mạnh, minh bạch cho tất cả các bên...” Trong khi đó ông Rolf Bergman, Đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam cũng cho biết có yêu cầu chính phủ Việt Nam bãi bỏ mọi hạn chế đối với lãnh vực Internet. Đồng thời ông Rolf Bergman cũng cho biết
“Chúng tôi nhấn mạnh rằng báo chí cũng như các trang mạng xã hội giữ vai trò hết sức trọng yếu trong việc nối kết thông tin, để dẫn đến thành quả, chứ không tác hại gì đến các kế hoạch của chính phủ. Chúng tôi thật sự quan ngại khi nhận được tin chính phủ kiểm soát trang xã hội Facebook vì làm như thế là cản trở sự phát triển chứ không thể gặt hái kết quả tốt được.... Các nước có mặt trong hội nghị như Hoa Kỳ, Canada, Na Uy, New Zealand cũng như các nước châu Âu khác đều có chung những quan ngại như của chúng tôi...”.
Tuy nhiên, đã trải qua nhiều năm, biết bao nhiêu nhận định, đề nghị, khuyến cáo của các nước có sự tài trợ và bang giao với CSVN, nhưng khi nhìn lại xã hội và đất nước Việt Nam hiện nay thì hầu như không ai thấy được một dấu hiệu nào chứng tỏ khá hơn mà ngược lại có chiều hướng tệ hơn rất nhiều, và trong những ngày tháng gần đây, mức độ đàn áp, trù dập đã gia tăng đến độ khối truyền thông nói riêng và toàn dân tại quốc nội nói chung, hầu như càng ngày càng tỏ ra “ngoan ngoãn”, luôn luôn “nhất quán” với đường lối của đảng đưa ra, kể cả những vấn đề quan trọng liên quan đến sự tồn vong của đất nước như sự kiện Boxite tại Tây Nguyên hay chủ quyền về lãnh thổ, lãnh hải đã và đang bị mất dần trong tay Tầu cộng.
Với những diễn biến nêu trên đại đa số nhận định, nếu các nước tài trợ thực sự quan tâm đến tự do, dân chủ và nhân quyền của Việt Nam, tất nhiên họ không thể chỉ đưa ra những nhận định hay khuyến cáo xuông. Đối với một tập đoàn lưu manh, thủ đoạn như CSVN mà chỉ nói xuông rồi đổ tiền vào một cách vô tội vạ thì chỉ tạo cơ hội cho tập đoàn CSVN có cơ hội, nhảy muá, sơn phết những tấm bình phong tuyệt đẹp để bên trong tiếp tục, chia chác, bóc lột xương máu của người dân và bán rẻ giang sơn với câu “Nối giáo cho giặc” mà người Việt Nam thường dùng. Tất cả những khẩu hiệu, vẽ vời hình thức của CSVN thực sự chẳng che mắt được ai, ngoài sự đồng lõa tung hứng cho quyền lợi. Để cuối cùng “mười voi vẫn không được một bát nước xáo”, chẳng có gì thay đổi để có thể thấy được những điều mà toàn dân VN đang mơ ước. Điều này cũng đã được ông Rolf Bergman xác nhận:
“Chúng tôi hy vọng sẽ thấy nhiều hơn nữa những tiến bộ trong lĩnh vực này nhưng phải thật lòng mà nói chúng tôi chưa thấy chính phủ có phản hồi tích cực trong vấn đề này và vì vậy chúng tôi cảm thấy hơi thất vọng...”.
Để làm sáng tỏ hơn về bản chất CSVN, đi ngược dòng lịch sử từ năm 1945, sau khi CSVN cướp được chính quyền đến nay, đã có biết bao nhiêu khẩu hiệu cải tổ, kêu gọi diệt trừ tham nhũng, tôn trọng tự do thông tin, tự do ngôn luận của người dân... Nhưng kết quả ra sao chắc ai cũng biết. Tất cả hình ảnh những tù nhân lương tâm hay chính trị còn nằm nơi nhà lao trong hiện tại cũng đủ chứng minh rõ ràng cái “thiện chí” cải tổ của hệ thống CSVN từ hơn nửa thế kỷ qua. Ngoài ra, mới đây cái Nghị Định 97/2008/NĐ-CP- do Nguyễn Tấn Dũng ban hành cũng là một bằng chứng xác định cái “thiện chí” ấy một cách rất hùng hồn và minh bạch. Một nghị định phản dân chủ, đi ngược lại Công ước Quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1982 mà CSVN đã tham gia ký tên. Đồng thời cái nghị định 97 này cũng đang phỉ nhổ vào cái đống giấy lộn được gọi là Hiến pháp nhà nước CSVN với điều 69. Như vậy, cái ánh sáng tự do nhân quyền mà một số người đã nhận định đang nằm ở đâu??? Và những nhận định của các nước tài trợ sẽ có ảnh hưởng gì đến tự do, dân chủ và nhân quyền cho đất nước Việt Nam hay không, một khi không có những điều kiện đi kèm và người dân Việt Nam vẫn chưa thể tỉnh táo dứng dậy đòi lại.
• Phạm Thanh Phương (Úc Châu)
Phạm Thanh Phương (Úc Châu)
Trong mấy tuần lễ gần đây, dư luận bàn tán khá xôn xao về hiện tượng Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nhà nước CSVN yết kiến Đức Giáo Hoàng Benedicto 16 tại Vatican từ ngày 09 đến ngày 12-12-2009 vừà qua.Với sự kiện này, một số người cho rằng Triết sang Vatican để “cầu hoà”, xin lỗi về những xung đột với Giáo hội Công giáo Việt Nam về vấn để tài sản, đất đai như sự việc Tòa Khâm Sứ ở Hà Nội; Thánh địa La Vang; Giáo Hoàng Học Viện ở Đà Lạt; Dòng Thánh Giuse, Nha Trang; Giáo xứ Thái Hà; Nhà thờ Tam Tòa ở Quảng Bình,Tu viện thánh Phaolô ở Vĩnh Long ,v,v... Ngược lại, đại đa số lại nhìn đây chỉ là dấu hiệu của những thỏa thuận, tương nhượng từ một số quyền lợi tương quan song phương giữa hai quốc gia, mặc dù không có bất cứ một sự tiết lộ nào từ cả hai bên.
Nhận định về sự kiện, phía CSVN ông Nguyễn Hồng Dương, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo tại Hà Nội cho biết
“Tôi nghĩ mối quan hệ đó đang trong lộ trình. Sau khi Thủ tướng Việt Nam đến Vatican thì nay chuyến đi của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đến gặp Giáo hoàng thì hai phía đang trong lộ trình thiết lập quan hệ đầy đủ giữa Vatican và Việt Nam”.
Trong khi đó, Gs Nguyễn Đăng Chúc thuộc Phân khoa Thần học, Đại học Strasbourg, Pháp hầu như cũng đồng quan điểm với ông Dương trong nhận định:
“Chắn chắn có thiện chí từ phía hai bên, dù cả hai bên không ai tiết lộ, đến bây giờ cũng chưa có những gì cụ thể cả.”
Từ những nhận định trên, một số người tỏ ra rất phẩn khởi cho rằng, dù sao Vatican cũng là một Trung tâm quyền lực có ảnh hưởng rất nhiều trên toàn thế giới, và dù ít hay nhiều CSVN cũng không nằm ngoài quỹ đạo. Như vậy, họ cho rằng hai chữ “thiện chí” cuả Gs Chúc ở đây mang ý nghĩa CSVN sẽ phải nhân nhượng bày tỏ thiện chí bằng cách trả lại một số tài sản của Giáo hội Công giáo Việt Nam đã bị CSVN cướp đi từ nhiều năm qua, ít nhất là những vụ việc gần nhất. Tuy nhiên, cũng nhiều nguồn dư luận lại cho rằng thế giới ngày nay đã khác xưa, ảnh hưởng của giáo quyền cũng không còn tồn tại, do đó ảnh hưởng của Vatican chỉ có thể đứng trên giá trị tinh thần tại một số quốc gia có nhiều tín đồ Công giáo, lãnh đạo của họ biết tôn trọng đạo đức và lẽ phải. Ngược lại CSVN là một loại phi nhân tính, cộng thêm chủ nghĩa tam vô. Do đó, CSVN sẽ không bao giờ bị chi phối bởi ảnh hưởng giá trị đạo đức và tâm linh. Có chăng là những giá trị kinh tế và chính trị khi có lợi cho họ. Hơn nữa, theo chủ trương của Vatican cũng chỉ muốn cố gắng thực hiện một sự "hợp tác lành mạnh" tìm một sự "sống chung hoà bình giữa Giáo hội và cộng đồng Chính trị" CSVN, hầu có thể tạo nên một "xã hội công bằng". Ngoài ra Vatican cũng không chủ trương đối kháng với CSVN và cũng "không chủ trương tìm cách thay thế những người có trách nhiệm lãnh đạo đất nước và chỉ mong muốn trên một tinh thần đối thoại, hợp tác và tôn trọng lẫn nhau để thực hiện vai trò của mình nhằm phục vụ mọi tầng lớp người dân..." như lời Đức Giáo Hoàng Benedicto 16 đã tuyên bố trong lần gặp phái đoàn Công giáo tại Vatican cách đây không lâu. Do đó, hai chữ “thiện chí” cuả Gs Chúc ở đây chắc chắn phải được áp dụng cho cả hai bên trong tinh thần “Dĩ hoà vi qúy”, để có thể tiến đến một hệ thống bang giao trong hài hoà. Như vậy, trong cái “Dĩ Hoà Vi Qúy" ấy, chắc chắn hai bên sẽ phải thông qua một số khúc mắc, không thể làm khó nhau và chuyện trả lại tài sản cho Giáo hội Công giáo Việt Nam cũng rất khó có thể xẩy ra.
Nói về việc CSVN trả lại tài sản cho giáo hội Công giáo Việt Nam, thiết nghĩ nên đi trở ngược dòng lịch sử từ khi CSVN xuất hiện trên đất nước đến nay, có bao giờ CSVN có “thiện chí” ăn năn, hối lỗi, trả lại cho khổ chủ những gì họ đã cướp hay không, ngoại trừ lấy lại từ sức mạnh của vũ lực, nếu có. Do đó, muốn lấy lại được những gì đã mất, người Công giáo Việt Nam không thể tin tưởng vào những thoả hiệp hay tương nhượng từ Vatican trong lãnh vực bang giao với CSVN. Ngược lại phải đoàn kết tập trung sức mạnh đấu tranh, lúc đó mới có thể đạt được kết qủa như mong muốn. Tuy nhiên, dù sao chăng nữa dư luận cũng hy vọng Vatican không vì quyền lợi riêng của Toà Thánh mà quên đi sự đau khổ của toàn dân Viện Nam nói chung và Giáo hội Công giáo tại Việt Nam nói riêng như lời Lm Trần Công Nghị đã nhận định:
“Giáo Hội lo phần linh hồn, Giáo Hội lo cho sự tốt đẹp của một giáo hội khác, không thể Giáo Hội Vatican đi trên đầu trên cổ Giáo Hội Việt Nam đang khi người Việt Nam ở khắp nơi đều mong muốn một giáo hội có sự yên bình"...
Nói về sự yên bình trong một cộng đồng, có lẽ không ai có thể phủ nhận điều kiện tiên quyết là hoà giải những tị hiềm, hận thù, và hoà hợp trong tình yêu nhân bản. Tuy nhiên, hoà giải như thế nào mới là một điều đáng quan tâm, hoà giải không có nghĩa là phải khuất phục để trở thành một thứ nô lệ hay tay sai như lời Lm Nguyễn Văn Khải đã xác định:
"Chúng tôi được mời gọi để hòa giải chứ không phải để khuất phục trước các thế lực, sự dữ, trước các bất công, trước việc cá lớn nuốt cá bé, hình thức lấy thịt đè người. Cái đó tùy thuộc vào thái độ của chính quyền đối với chúng tôi. Vấn đề là chính quyền có tôn trọng công lý và sự thật hay không. Chính quyền có tôn trọng tự do tôn giáo hay không. Chính quyền có tôn trọng quyền lợi của cộng đồng linh mục tu sĩ và giáo dân Thái hà hay không. Tùy thuộc vào thái độ ứng xử của chính quyền mà chúng tôi phải biết đáp lại thế nào cho đúng, đúng với tư cách là một công dân và tín hữu Công giáo.".
Cùng một quan điển với Lm Khải, trong đêm khái mạc lễ Năm Thánh, Giám mục Giuse Nguyễn Chí Linh đã xác định trong bài giảng "... Đã đến lúc người Việt Nam phải thẳng thắn nhìn nhận rằng chúng ta đã làm khổ nhau quá nhiều vì bảo thủ chính kiến và thành kiến, vì độc tôn phe nhóm và quyền lợi”. Như vậy, thiết nghĩ muốn có một sự “sống chung hoà bình” để tạo “một xã hội công bằng”, đương nhiên người Việt Nam nói chung và người Công giáo nói riêng phải có một sự đoàn kết vững mạnh trong đấu tranh, tận diệt những “bảo thủ chính kiến và thành kiến, vì độc tôn phe nhóm và quyền lợi”... Không thể chỉ dựa “trên một tinh thần đối thoại, hợp tác và tôn trọng lẫn nhau” như Đức Giáo Hoàng Benedicto 16 đã mong ước. Bởi lẽ CSVN không phải là một loại còn nhân tính và tâm linh, họ không bao giờ có được cái “thiện chí” biết lắng nghe, để có thể thấu hiểu được sự hơn thiệt của Tổ quốc và dân tộc. Ngược lại, họ là những kẻ mang dòng máu lạnh, chỉ biết dùng thủ đoạn gây tang thương, máu lửa, cướp bóc, lọc lừa. Vì vậy, tin vào “thiện chí” của CSVN coi như tự sát, để muôn đời sẽ luẩn quẩn mãi trong cái màn đêm đau khổ tận cùng của nhân loại.
Tóm lại, việc Nguyễn Tấn Dũng hay Nguyễn Minh Triết có sang yết kiến, bàn bạc, tương nhượng hay thoả hiệp gì với Vatican chăng nữa, thì bổn phận của người dân Việt nam nói chung và khối Công giáo Việt Nam nói riêng vẫn phải giữ vững niềm tin, đoàn kết gây sức mạnh, tiếp tục công cuộc đấu tranh đòi công lý, sự thật. Đòi lại tự do, dân chủ và quyền tự quyết của dân tộc. Riêng hàng giáo phẩm "Giáo Hội cũng luôn luôn kêu gọi rằng Giám mục là một vị mục tử luôn luôn phải nói tiếng nói của công lý, của chân chính, của sự thật, mà ví dụ phải chết chăng nữa để nói sự thật...". Vì thế nếu các Giám mục, Linh muc Việt Nam triệt để thi hành chức năng của mình, can đảm đặt quyền lợi tổ quốc, dân tộc lên trên quyền lợi của Tôn giáo và giáo quyền như Đức Giáo Hoàng Jean Pau lI đã thực hiện đối với tổ quốc và dân tộc Balan của ngài. Nếu được như thế, thiết nghĩ Giáo hội Công giáo Việt Nam sẽ là một yếu tố quan trọng dùng vực dậy sức mạnh truyền thống của dân tộc, để cùng đứng lên tận diệt những “phe nhóm độc tôn”, tận diệt những độc ác, những thủ đoạn gian manh lừa bịp của CSVN, đòi lại tự do, dân chủ cho, nhân quyền đất nước. Đồng thời, với sức mạnh ấy cũng có thể tẩy rửa được cả những uất nhục của non sông do đảng CSVN gây ra. Chỉ khi nào dân tộc có được tự do và quyền tự quyết, lúc đó mới có thể tìm được một đòi sống an bình thực sự trong tương kính giữa tình người với nhau. Ngược lại, một khi chế độ dã man tàn bạo CSVN còn ngự trị trên quê hương, dân tộc Việt Nam sẽ tiếp tục còn đau khổ, Tổ quốc sẽ còn nhiều nỗi đắng cay, uất nhục, và Giáo hội Công giáo Việt Nam cũng không thể nằm ngoài qũy đạo.
• Phạm Thanh Phương (Úc Châu)
Kể từ ngày 09-11-2009, khi Âu Châu bắt đầu kỷ niệm 20 năm “Bức Tường Ô Nhục” tại Đức sụp đổ. Từ đó đã kéo theo các chế độ CS khác tại Đông Âu hàng loạt rủ nhau cáo chung. Nói đến sự cáo chung của các chế độ CS tại Đông Âu có lẽ ai cũng hiểu, cái xác thối XHCN đã được những dân tộc Đông Âu nói chung và dân tộc Đức nói riêng dùng ánh sáng văn minh của nhân bản để đào sâu, chôn chặt trong tận cùng của lịch sử nhân loại. Vì vậy, trong dịp kỷ niệm này, dư luận trên toàn thế giới đã bày tỏ một sự quan tâm đặc biệt, và những người dân Việt Nam chân chính lại càng tỏ ra quan tâm hơn. Thiết nghĩ, những ngưuời Việt Nam chân chính, khi nhìn lại sự kiện thống nhất của nước Đức cách đây 20 năm, có lẽ không mấy ai thoát khỏi sự chạnh lòng, ngậm ngùi, xót xa cho dân tộc mình, ngoại trừ bọn tội đồ CSVN và những kẻ đã vì một lý do nào đó nhân tính của họ đã bị khánh kiệt
Nói về sự thống nhất của nước Đức cách đây 20 năm, không ai có thể phủ nhận là một cuộc giải phóng dân tộc đúng nghĩa, đưa đến một niềm an vui, ấm no trong hoà bình. Toàn thể người dân Đức hai miền Đông - Tây đã cùng nhau nô nức reo hò theo từng nhát búa mang nặng tình nhân loại, nghĩa chủng tộc, hoà chung với những dòng nước mắt hạnh phúc của bao nhiêu năm trời cách biệt, chờ đợi trong đau xót, buồn tủi chỉ vì một chủ thuyết huyền hoặc không tưởng CS.
Nói đến sự sụp đổ cuả ”Bức Tường Ô Nhục”, nhiều người cho rằng, yếu tố then chốt quan trọng hàng đầu là do sự ảnh hưởng của cố Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Regan và cố Đức Giáo Hoàng John Paul II. Nhưng một số nhận định khác cho rằng, mặc dù không ai phủ nhận của cố Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Regan và cố Đức Giáo Hoàng John Paul II là hai nhân vật có sự ảnh hưởng sâu đậm trong việc thống nhất nước Đức. Tuy nhiên, nếu người dân Đức không có những nỗ lực từ nhiều năm và những nhà lãnh đạo Đức đã bị thối rữa lương tri như CSVN, thì chắc chắn sự thống nhất này không thể xẩy ra để giải phóng con người trở về đúng nghĩa của nhân bản...
Tưởng nhớ cuộc thống nhất của nước Đức, đại đa số người Việt
Sau 20 năm thống nhất, toàn thể người dân Đức ăn mừng tưởng nhớ cái ngày bắt đầu của ánh sáng và niềm tin, tình yêu và hy vọng, họ được cả thế giới ngưỡng mộ, nô nức chia sẻ. Ngược lại, mỗi lần người dân Việt Nam nhắc tới ngày thống nhất 30 -4-1975, đều ngậm ngùi xót xa cho kiếp người với uất nhục của tổ quốc, và mơ ước một ngày “Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời” của quê hương...
Cũng trong sự kiện này, đại đa số người dân Việt Nam nhận định, “Bức Tường Ô Nhục” của nước Đức được xây bằng những viên đá rất kiên cố, nhưng đã được san bằng cách đây 20 năm trong tình yêu nhân bản. Ngược lại cách đây 34 năm, Việt Nam thống nhất để dựng nên một “Bức Tường Ô Nhục” ngay trong lòng dân tộc mà chỉ có người dân Việt Nam có thể nhìn thấy rõ nhất nó là biểu tượng cho cái ô nhục trên tất cả các loại ô nhục trên thế gian. “Bức tường Ô Nhục” của Việt Nam không đuợc xây bằng những viên đá kiên cố như nước Đức, nhưng nó đã được xây bằng sự ngu xuẩn, vong tình, bội nghĩa của những con người đã khánh kiệt nhân tâm và thối rữa tâm hồn như CSVN. Chính vì thế mà đất nước Việt Nam ngày nay không khác nào một đống rác bầy hầy của thế kỷ. Sự thống nhất cuả CSVN đã không mang lại hạnh phúc, ấm no cho người dân mà ngược lại chỉ đem đến những đau khổ, uất nhục. Chính sự thống nhất này là cơ hội để CSVN đưa toàn thể người dân Việt Nam đi vào một nhà tù vĩ đại không cửa sổ, tạo ra một tổ quốc lở loang, có nguy cơ mất dần trong tay Tầu cộng.
Để chia sẽ sự thống nhất hạnh phúc của dân Đức, từ giáo xứ Thái Hà, Lm mục Nguyễn Ngọc Nam Phong bày tỏ:
"Chúng tôi chia xẻ với người dân Đông Âu, nói chung là người dân Đức đã phá đổ được một bức tường ngăn cách mà do cái chủ nghĩa vô thần đó nó tạo nên.".Và để nói lên sự mơ uớc chung của cả một dân tộc đang đắm chìm trong đau khổ, nhục nhã của thế kỷ hôm nay, Lm Phong chia sẻ:
"Là người dân trong một đất nước đang ở trong một chế độ kiềm kẹp thì không chỉ chúng tôi mà tất cả mọi người đều mong ước được giải thoát một cách nào đó để con người được hưởng trọn vẹn cái quyền mà Thượng Đế đã ban tặng cho mỗi con người, như là quyền sống, quyền tự do đi lại, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do diễn tả những cảm nghĩ, những suy nghĩ của bản thân mình. Tiếc rằng là ở Việt Nam thì cho đến bây giờ những quyền lợi đó nó cũng chưa có."...Tuy nhiên, mơ ước vẫn chỉ là mơ ước, khát khao, nếu những người mơ ước không có những nỗ lực tạo nên nó.
Sự hạnh phúc của người dân Đông Âu nói chung và dân Đức nói riêng có được hôm nay, không phải là ngẫu nhiên từ trời cao rơi xuống hay từ một thế lực nào ban phát cho họ, mà họ đã lấy về từ chính trái tim, khối óc, máu và nước mắt của họ. Từ đó, họ đã kết hợp được lòng người thành sức mạnh và cũng là chất liệu thức ngộ được những con người lãnh đạo đã một thời sắt máu, lầm lũi trong u tối.
Để chứng minh cho điều này, đi ngược dòng tất nhiên sẽ thấy được sau Đệ nhị Thế chiến 1945, biên giới Đông-Tây nước Đức được phân định cũng giống như bối cảnh của Việt Nam sau năm 1954. Họ cũng có những đắng cay cực nhục, họ cũng có những làn sóng tỵ nạn CS như Việt nam chúng ta, nhưng họ khác chúng ta là sự ý thức đấu tranh một cách can đảm và mạnh dạn hơn. Điển hình một số phong trào tiêu biểu tại các quốc gia Đông Âu như Ba Lan, Hungary và Tiệp Khắc, nhưng những cuộc nổi dậy này đều bị đàn áp đẫm máu như cuộc nổi dậy của thợ thuyền tại cảng Poznan, Ba Lan năm 1956, cuộc cách mạng mùa thu Budapest 1956, và cuộc cách mạng mùa xuân thành Praha 1968..v..v Tất cả đã là những chất liệu đưa đến hạnh phúc của hôm nay.
Tóm lại, Trông người mà nghĩ đến ta, người dân Việt
· Phạm Thanh Phương
Phạm Thanh Phương
Trong những năm gần đây, biển Đông là một vấn đề nóng bỏng và nhức nhối cho toàn thể dư luận trong và ngoài nước. Tất cả những sự kiện xẩy ra trên biển đông, không phải là những xung đột bình thường, mà nó chính là một vấn nạn của đất nước, nó liên quan đến mạng sống của người dân, sự tồn vong của đất nước và cũng là mối nhục quốc thể chưa từng xẩy ra trên dòng lịch sử với hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước. Riêng đối với tập đoàn lãnh đạo CSVN, thì hầu như không có gì xảy ra, dân chết mặc dân, ai cảm thấy nhục cứ tự nhiên mà nhục một cách “vô tư”. Còn lãnh đạo đảng thì vẫn lần lượt dắt nhau sang Bắc Kinh để tung hô “mười sáu chữ vàng” một cách máy móc, trơ trẽn như những con rối của Trung cộng. Tuy nhiên, trong trận bão số 9 vừa qua, sự kiện 17 chiếc tầu và 200 ngư dân bị Hải quân Trung cộng đánh đập, cước bóc một cách trắng trợn trong quần đảo Hoàng Sa đã tạo ra một sức ép khá mạnh mẽ từ các nguồn dư luận. Cũng từ sức ép này, có lẽ đảng và nhà nước CSVN cảm thấy không thể im lặng mãi, nên đành bật đèn xanh cho Quốc Hội lên tiếng cho có vẻ quan tâm, mong rằng có thể trấn an dư luận được phần nào của hiện tại.
Xoay quanh sự kiện RFA đưa tin, nhân phiên họp Quốc hội CSVN tuần qua, ông Lê Quang Bình, chủ nhiệm “Uỷ Ban Quốc Phòng-An ninh Quốc Hội” có đưa ra đề nghị thành lập “Đội dân quân bảo vệ biển”. Theo ông Bình, “với Luật dân quân tự vệ, Việt Nam sẽ phát triển tốt hơn lực lượng dân quân, tự vệ biển, làm nòng cốt bảo vệ người dân trên biển cũng như giúp họ xác định tốt hơn đâu là vùng biển của Việt nam, đâu là vùng biển của nước ngoài”. Cũng theo đề nghị này, ngư dân Việt Nam sẽ được trang bị vũ khí và một số trang thiết bị để có thể xác định vị trí trên biển, tránh tình trạng đi lạc vào hải phận của các quốc gia khác. Đồng thời họ có thể tự bảo vệ khi bịp cướp...v..v
Trước đề nghị quái đản này, đại đa số ngư dân và dư luận nhận định, nếu ông Bình cho rằng trang bị vũ khí để ngư dân có thể tự vệ là một điều quá ngu xuẩn, điều này đã không giúp được gì mà còn đưa ngư dân đi vào chỗ chết. Bởi lẽ ai cũng hiểu, những sự kiện ngư dân Việt Nam phải đối diện trên biển đông không phải là những bọn cướp vặt, mà là một lực lượng Hải quân được trang bị đầy đủ vũ khí tối tân của một trong những cường quốc hiện tại trên thế giới là Trung cộng. Hơn nữa, một khi ngư dân được trang bị vũ khí, tất nhiên sẽ bị Trung cộng liệt kê họ vào loại cướp biển, để có thể ra tay cước bóc, tàn sát một cách danh chính, ngôn thuận như hiện tượng 9 ngư dân Thanh Hoá trước đây.
Một điều khôi hài là khi đưa ra đề nghị này, chính ông Bình cũng thừa nhận trong quá khứ CSVN cũng đã từng võ trang hoá một số tập đoàn đánh cá quốc doanh, và khi tàu ngư dân Việt Nam “lạc” vào vùng biển nước ngoài, họ đều bị quy là cướp biển. Tuy biết thế, nhưng ông Bình vẫn đưa ra đề nghị và cố ngụy biện rằng, nhà nước CSVN sẽ cấp giấy phép giữ vũ khí cho ngư dân để tránh sự “ngộ nhận” như đã từng xẩy ra. Một câu hỏi được đặt ra ở đây, là một khi Hải quân Trung cộng đã cố ý cướp, thì họ có cần hỏi giấy phép giữ vũ khí không ? Và những tờ giấy ấy nhà nước CSVN cấp sẽ có giá trị gì? Hay cũng chỉ là những miếng giấy lộn không hơn, không kém đối với Trung cộng.
Cũng trong sự kiện này, về phía ông Bình thì cho rằng đây là một thượng sách có “Nhất Cử Lưỡng Tiện”, dùng để trấn an ngư dân, và cũng để chứng tỏ rằng đảng, nhà nước cũng quan tâm thương dân như đã rêu rao. Đồng thời dùng ngư dân như những tấm bia đỡ đạn, thay thế cho Hải quân CSVN trong việc canh giữ vùng biển một cách “tế nhị” không làm mất lòng đàn anh Trung cộng. Tuy thế, nhưng dựa trên thực tế, ngư dân Việt Nam cũng nhìn ra sự bịp bợm tai hại này một cách rõ rệt, họ chẳng bao giờ dại dột chấp nhận. Ngược lại, họ đòi hỏi đảng và nhà nước phải có trách nhiệm gửi “Cảnh sát biến” hoặc Hải quân ra giữ an ninh cho họ.
Cũng theo RFA, trong một đoạn đoạn phỏng vấn, một ngư dân đã từng bị cướp, đánh đập cho biết "Nói chung bây giờ họ giao súng, em cũng không dám đâu, tàu của họ có súng hai nòng lớn lắm nếu có gì thì họ bắn chết."... Một câu hỏi khác được đại đa số đặt ra ở đây là, tại sao đảng và nhà nước cứ phải loanh quanh, khôi hài như thế này, một chủ nhiệm “Uỷ Ban Quốc Phòng-An ninh Quốc Hội” như ông Bình mà chẳng lẽ không hiểu được nhiêm vụ của lực lượng quân đội là bảo vệ đất nước và người dân hay sao? Lực lượng Hải quân của CSVN dùng để làm gì mà không dám bảo vệ dân? Một nhà nước của “nhân dân”, lúc nào cũng rêu rao, gào thét vì dân, thương dân, yêu dân như “Bác Hồ yêu các cháu nhi đồng”. Một “Quân Đội Nhân Dân Anh Hùng”, đã từng hãnh diện với ba chiến thắng vĩ đại là thắng ba đế quốc “Nhật-Pháp-
Mỹ”, nhưng bây giờ chẳng hiểu cái “Anh hùng” đã trốn đi đâu mất rồi? Mà ngày nay chỉ toàn thấy một đám “ăn hại đái nát” tham nhũng bóc lột dân, và đưa dân vào chỗ chết một cách rất đểu cáng như đề nghị của chủ nhiệm “Uỷ Ban Quốc Phòng-An ninh Quốc Hội” vừa qua.
Mỹ”, nhưng bây giờ chẳng hiểu cái “Anh hùng” đã trốn đi đâu mất rồi? Mà ngày nay chỉ toàn thấy một đám “ăn hại đái nát” tham nhũng bóc lột dân, và đưa dân vào chỗ chết một cách rất đểu cáng như đề nghị của chủ nhiệm “Uỷ Ban Quốc Phòng-An ninh Quốc Hội” vừa qua.
Nói riêng về chức năng và nhiệm vụ của quân đội, thêm một câu hỏi khác nữa được đưa ra ở đây là, nhiệm vụ của Hải quân CSVN là cái gì, chẳng lẽ cả một lực lượng Hải quân mà chỉ để dùng chuyển tải hàng lậu, chuyên chở tài nguyên quốc gia đi bán cho ngoại bang hay sao ? Hay Hải quân của CSVN là một lực lược trừ bị, chỉ thi hành chức năng khi có lệnh của Trung cộng kêu gọi như hiện tượng bốn chiến hạm đã “Hồ hởi, phấn khởi” tìm kiếm hai ngư thuyền và 13 ngư dân của Trung cộng bị mất tích trong vùng đảo Bạch Long Vĩ vừa qua. Như vậy, lực lượng Hải quân CSVN dùng để bảo vệ cho ai, bảo vệ tổ quốc nào, có lẽ ai cũng biết, nhưng chắc chắn không phải Tổ quốc và dân tộc Việt Nam.
Trước những thực tế phũ phàng, nhưng vấn đề được toàn dân đau khổ quan tâm hiện nay, không phải đơn thuần chỉ là những hiện tượng ngư dân bị Hải quân Trung cộng bắt bớ, đánh đập, cướp bóc. Mà vấn đề tối quan trọng vẫn là giang sơn và quốc thể, một khi giang sơn và quốc thể được bảo toàn, thì chắc chắn những sự kiện bắt bớ, đánh đập cướp bóc của Hải quân Trung cộng đối với ngư dân Việt Nam trên biển đông sẽ tự động được chấm dứt. Điều đáng nói là những sự kiện Trung cộng chiếm đóng Hoàng Sa, lấn áp Trường Sa, vẽ lại bản đồ, khoanh vùng biển hình lưỡi bò gần như nuốt trọn một vùng lãnh hải của Việt Nam. Nhưng tập đoàn lãnh đạo CSVN vẫn gục đầu “án binh bất động”, coi như không có gì xẩy ra, thậm chí còn cố gắng dùng mọi thủ đoạn, bạo lực để bịt miệng người dân khi họ bày tỏ những nỗi sót xa, uất nhục từ những tấm lòng yêu nước. Như vậy, những gì ông Bình đề nghị có phải là một trò hề hay không? Có lẽ ai cũng biết.
Tóm lại trước hiện tình đất nước, tất cả những ai còn có lòng với tiền đồ cuả dân tộc, biết đau cái đau của dân, biết nhục cái nhục của nước, thiết nghĩ chúng ta nên mạnh dạn trong mọi lãnh vực có thể trong khả năng. Sáng suốt nhận định và cảnh giác trước những “viên thuốc độc bọc đường” của Việt gian và Việt Cộng đưa ra như “Hãy cùng bắt tay nối kết, hoà hợp để cùng canh tân đất nước, từ đó sẽ dùng tình thương xoá bỏ hận thù, cảm hoá để CSVN giác ngộ quay về với chính nghĩa quốc gia,v,v...”. Ngược lại, hãy dựa trên những bằng chứng thực tế, đừng bao, dại dột giờ tin tưởng CSVN sẽ thay đổi, cho dù chế độ ấy có được thay thế bằng những thế hệ “CS con”. Bởi lẽ tục ngữ Việt Nam có câu “Trứng Rồng sẽ đẻ ra Rồng- Liu điu thì vẫn một giòng Liu điu” không thể khác. Tất cả những lý luận, biện luận cho CSVN ngày nay, chỉ là sự lừa bịp, ru ngủ trong đấu tranh, không ngoài mục đích mong biến cộng đồng người Việt tỵ nạn trở thành thần dân của chế độ vong nô, hèn nhược CSVN, hầu có thể triệt thoái toàn thể tinh thần đấu tranh của người dât Việt Nam nói chung. Một điều cuối cùng cần ghi nhớ là “CS không bao giờ thay đổi, chỉ có thể thay thế” như ông Boris Yeltsin đã nói. Chỉ có sức mạnh đoàn kết của dân tộc mới thực sự là một thế lực có thể triệt thoái được cái thể chế vong nô, thối nát CSVN, tái tạo hạnh phúc, an vui cho dân tộc và rửa hờn cho non sông. Không thể trông mong vào bất cứ thế lực nào, khi sức mạnh của dân tộc vẫn còn đang say ngủ.
Phạm Thanh Phương
Cái gì đến rồi sẽ đến, “Đại Hội Việt Kiều” cũng đã khai mạc với trên dưới một ngàn người mà CSVN gọi là “đại biểu Việt kiều”. Nhìn vào danh sách “đại biểu”, có lẽ ai cũng thấy đại đa số là những tên tuổi hầu đã về từ các nước CS cũ vùng Đông Âu, mà cộng đồng người Việt tỵ nạn CS cũng chưa từng biết qua. Ấy thế mà CSVN vẫn oang oang tuyên bố với RFA là đó là các “Đại Biểu’ đại diện 101 quốc gia trên thế giới. Tuy vậy, đến khi bị hỏi vặn thì Trần Trọng Toàn, Phó chủ nhiệm “Uỷ Ban Nhà Nước Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài” phải trớ đi, trả lời lập lờ là chỉ có một số người được gửi về từ một số cái gọi là “Hội Việt kiều” hoặc “Chi hội Việt kiều” từ một số quốc gia trên thế giới và một số các nhân, phe nhóm đã từng đóng góp với nhà nước CSVN qua hình thức buôn bán, từ thiện cứu trợ thiên tai, cứu đói giảm nghèo, cứu trợ y tế và giúp các trẻ em thất học, bại liệt,v,v....
Để đi sâu vào vấn đề, có lẽ ai cũng thấy cái mà CSVN gọi là “Đại biểu” hoàn toàn là một điều “lập lờ đánh lận con đen” nhằm lừa bịp người dân trong nước nói riêng và quốc tế nói chung. Nếu ai quan tâm theo dõi tất sẽ thấy, gọi là “Đại biểu” cộng đồng người Việt tại hải ngoại mà không hề có một tên tuổi nào gọi là có tiếng tăm, uy tín đã sinh hoạt trong các hội đoàn, đoàn thể hay trong các tổ chức cộng đồng tại hải ngoại. Ngược lại chỉ thấy một đám người lạ hoắc chưa từng biết mặt, nghe tên. Còn lại cái mà CSVN gọi là hội hay chi hội “Việt kiều” tại hải ngoại này cũng chưa từng nhắc qua tại những nới đông đảo người Việt cư ngụ như Mỹ, Úc, Canada,v,v,.. Như vậy, phải chăng đây là những tổ chức ma, hay là những nhóm bí mật như “hội kín” thời pháp thuộc ở mội nơi hang hốc nào đó.
Cũng trong đoạn phỏng vấn của RFA, Trần Trọng Toàn, Phó chủ nhiệm Uỷ Ban Nhà Nước Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài cho biết
"Vì tôi là người tiếp xúc với anh em trí thức Việt kiều ở các nước mà tôi đi thăm thì mọi người cũng đều trăn trở là làm thế nào đóng góp phần mình để đóng góp cho nền giáo dục Việt Nam...“.
Với câu nói này cuả Trần Trọng Toàn có thể đúng với sự thật, nhưng có lẽ không đúng theo nghĩa của ông là họ trăn trở để làm thế nào đóng góp cho chế độ CSVN bằng cách mang công sức và của cải về xây dựng đất nước khi chế độ thối nát vong nô CSVN còn tồn tại. Ngược lại, điều mà trí thức tại hải ngoại lúc nào cũng luôn trăn trở là làm thế nào có thể tận diệt tất cả những gì đang đi ngược với nhân bản, tượng trưng qua chế độ CSVN. Cái quan trọng của trí thức hải ngoại là muốn dân tộc mình được đầy đủ cái quyền làm người như tất cả mọi người trên trế giới, họ không muốn và rất đau lòng khi nhìn dân tộc mình bị khủng bố, bóc lột và nhục nhã như hiện tại dưới bàn tay CSVN. Họ cũng muốn đất nước được thăng hoa và lãnh thổ, lãnh hải được toàn vẹn, không phải chịu uất nhục, cúi đầu đem giang sơn dâng hiến cho ngoại bang. Như vậy, những người Trần Trọng Toàn đã tiếp xúc chắc chắn không phải là những trí thức chân chính trong cộng đồng người Việt tỵ nạn tải hải ngoại mà chỉ là những tên đã khánh kiệt lương tri, thối rữa tâm hồn chỉ vì tham danh, hám lợi, bám theo cái cái bánh vẽ CSVN đưa ra. Chỉ có những loại người này mới không nhìn thấy và cảm nhận được cái đau của dân và cái nhục của nước đang hiện diện trên khắp nẻo đường quê hưong.
Nói về mục đích và nột dung “Đại Hội Việt Kiều”, Trần Trọng Toàn cho biết
“Đây là một diễn đàn mở, vì thế những vấn đề nêu ra trong hội nghị cũng là những vấn đề mở. Diễn đàn mở này sẽ rất hay vì từ trước Việt Nam nhiều lần tổ chức các buổi họp mặt dành cho Việt kiều song không hiệu quả lắm, vì thế hội nghị lần này là dịp để lắng nghe vì muốn thay đổi hay cải tiến thì cần lắng nghe ý kiến của Việt kiều”.
Chẳng những thế, ông Toàn còn cho biết, đảng và nhà nước sẵn sàng nghe ý kiến đóng góp những vấn đề xưa nay được cho là “nhạy cảm” như hiện tượng Boxite ở Tây Nguyên, vấn đề lãnh hải và lãnh thổ bao gồm chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trương Sa nữa. Từ điểm này, đại đa số dư luận cho rằng, nếu nói như ông Toàn thì chẳng hoá ra đảng và nhà nước CSVN chỉ thích nghe ý kiến của “Việt kiều” thôi sao? Còn ý kiến của những trí thức trong nước để đi đâu? Tại sao những trí thức trong nước như Ls Lê Chí Quang, Bs Phạm Hồng Sơn, Bs Nguyễn Đan Quế, Ls Lê Công Định, Ls Lê Thị Công Nhân và rất nhiều người khác đang bị cầm tù cũng chỉ vì đóng góp ý kiến trước cái khốn cùng của dân tộc và uất nhục cuả quê hương. Do đó, dư luận cũng cho rằng tất cả những gì ông Toàn nói chỉ là trò bịp, con số trên dưới một ngàn người mò về cũng là người của đảng CSVN, về để tụ họp “áo thụng vái nhau” diễn tuồng, phân phát “huân chương” bịp thiên hạ cho vui, còn lại thực tế “Mười voi vẫn không dược một bát nước xáo”.
Nhận định về “Đại Hội”, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đăng Hưng hiện đang sống tại Thụy Sĩ và cũng là người đã về Việt Nam nhiều lần cho biết, ông cũng chẳng hứng thú gì với cái trò hề này, ông nói
"Tôi cũng trong số người được mời nhưng nói thật tôi rất phân vân bởi cái thời điểm bây giờ có những sự cố như thái độ của Việt Nam đối với trí thức qua nghị định 97 về vấn đề phản biện đưa tới việc các nhà trí thức hàng đầu của Viện IDS phải giải thể, hay là báo Tia Sáng, một cái nhìn của trí thức, không còn truy cập được nữa. Tôi e rằng rằng đây là khoảng thời gian mà không gây được sự phấn khởi để cho người trí thức tham gia đông đủ."...
Cũng trong vấn đề này đa số nhận định, CSVN đã lầm lẫn hay cố tình lầm lẫn một điều là khi thấy bất cứ ai đi ra đi vào Việt Nam nhiều lần là họ cho đó là những thành phần ủng hộ đảng và yêu đảng.Và đây cũng là thái độ “thấy sang bắt quàng làm họ” một cách nhập nhàng đã từng lừa bịp thiên hạ từ xưa đến nay của CSVN. Qua sự nhận định của Ts Hưng, để có thể thấy được một trí trức thực sự không như CSVN nghĩ, để vô tỉnh hay cố ý trở thành con rối cho đảng và nhà nước CSVN thao túng.
Trên thực tế, trong một chế độ độc tài toàn trị như CSVN, thì chắc chắn không bao giờ có được một sự lắng nghe trung thực, thật thà để xây dựng đất nước. Nếu CSVN biết lắng nghe tất cả những trí thức trong nước đã không bị trù dập, tù tội, ngược lại họ phải được tuyên dương. Hơn nữa, nếu CSVN biết lắng nghe thì cái quyền tự do ngôn luận và tự do thông tin đã được tôn trọng và làm gì có cái cảnh hàng loạt trí thức bị khủng bố trùng dân, bắt bớ , tù tội như Ls Lê Chí Quang, Bs Pham hồng Sơm, Bs Nguyễn Đan Quế, Ls Lê Thị Công Nhân , Ls sư Lê Công Định,v,v.... Đây là một thực tế phũ phàng mà ai cũng thấy, nhưng rất tiếc, cái bả lợi danh đã làm cho một số người phải bóp nất lương tri để cong lưng, uốn lưỡi trở thành con rối, nhảy muá trong vở tuồng lừa bịp “Đại Hội Việt Kiều” của CSVN bày ra như đã thấy.
Tóm lại, CSVN là một loại vi khuẩn ung thư mãn tính, không bao giờ và cũng không có một loại thần dược nào có thể chữa trị, ngoại trừ khi bị đốt trành tro bụi. Do đó, tất cả những luận điệu giác ngộ, chấp nhận lắng nghe ý kiến “Việt Kiều” chỉ là một trò tung hứng rẻ tiền nhằm nhiễu loạn nhân tâm, tạo ra một sự phân hoá hầu triệt tiêu ngọn lửa đấu tranh trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại mà thôi. Đây cũng chỉ là một chiến thuật như những chiến thuật trước đây qua nghị quyết 114 năm 2001 và nghị quyết 36 năm 2003, nhưng kết quả cho thấy cũng chẳng có gì khà quan ngoài nhiễu loạn được một khoảng thời gian ngắn và gây ra đưọc một số phân hoá nhỏ.
Để bảo đảm hơn, lần này CSVN chỉ mời một con số rất khiêm nhường trên dưới 1000, mặc dù khả năng CSVN có thể mời con số gấp năm hay mười lần như thế. Tuy nhiên, theo đa số nhận định, CSVN chỉ có thể thành công trên mặt hình thức co số những “con rối” về tham dự, nhưng cũng sẽ chẳng đi đến một kết quả nào với nội dung đã đưa ra.
• Phạm Thanh Phương
Thế giới ngày nay đã đi vào thế kỷ 21, một thể kỷ văn minh của nhiều nhiều mặt, trong đó dĩ nhiên không thiếu phần phát triển xã hội nhân bản. Tuy nhiên, sự văn minh tiến bộ này hầu như chỉ được giới hạn ở các nước Tự do, Dân chủ như một thế giới riêng biệt của loài người, nó không thể nào thẩm thấu, soi sáng đến những vùng tối tăm nơi các chế độ độc tài, toàn trị, trong đó có CSVN. Với bản chất gian ác, tham lam, những con người CS rất khó có thể thoát ra khỏi cái u mê luẩn quẩn, để họ có thể cập nhật với đà tiến triển cuả nhân loại, hầu có thể hoà nhập với một xã hội nhân bản, để tạo được một đời sống an vui tự tại cho ngươì dân giống như tất cả những người trong thế giới tự do. Tuy nhiên, dù sống trong hoàn cảnh bị cai trị, bưng bít của một tập đoàn u mê, man rợ, nhưng trước ánh sáng văn minh của nhân loại, người dân Việt Nam vẫn cố gắng tìm cho mình một phương tiện, để có thể cập hiểu, so sánh, định lại vị trí của chính mình với hiện tình đất nước. Do đó, dù muốn hay không những tuyên truyền, bịp bợm của CS cũng không còn có thể bít mắt được người dân như những ngày tháng của thập niên 30-40 như xưa.
Nhìn vào thực tại để thấy được trong những năm gần đây, CSVN đã cố gắng hao tổn rất nhiều trí lực, tài lực, cũng không ngoài mục đích mong khống chế người dân đi vào cái vòng luẩn quẩn u tối ấy của họ.Nhưng rất tiếc, kết quả cáng ngày càng cho thấy được những thất bại não nề không thể tránh. Biết bao nhiêu chương trình kế hoạch được đưa ra áp dụng, biết bao nhiêu nghị quyết, quyết dịnh mang tính khủng bố, răn đe. Tất cả cũng không thoát được cái cảnh “Dã tràng se cát”. Người dân vẫn sáng suốt nhìn ra cái chân giá trị của dòng đời, và cái thực hư, trắng đen của chế độ. Tuy là vậy, nhưng trước bản năng sinh tồn trong một nhà tù vĩ đại CSVN, đại đa số người dân vẫn sợ những tai hoạ đến với bản thân, gia đình và sợ cả sự liên lụy bi thương có thể dưa đến cho thân bằng, quyến thuộc. Tuy nhiên, sức chịu đựng của con người chỉ có một giới hạt nhất định, trong khi sức ép từ bè lũ xuẩn động CSVN mỗi ngàymỗi tăng. Do đó, trong cái thế “tức nước, vỡ bờ”, chữ sợ trong lòng dân tộc đã từ từ suy giảm, để hôm nay cũng đã có được khá nhiều nhân vật, chấp nhận thương đau, cất lên tiếng nói của lương tri, hầu có thể thức ngộ lòng người trước cảnh tồn vong của đất nước và dân tộc.
Nói về “Sợ & Không Sợ”, theo một cái nhìn chung, dưới bất cứ một chế độ độc tài toàn trị nào đều dùng sự sợ hãi để khống chế người dân. Tuy nhiên, đến khi người dân hết sợ, tất nhiên nỗi sợ ấy sẽ tự động chuyển qua cho chế độ hay những kẻ cầm quyền, nó gần như là một định luật tự nhiên của vũ trụ. Bằng chứng cho thấy, tất cả những hành vi bắt bớ, cầm tù các “Nhà đấu tranh dân chủ” hoặc đàn áp Tôn giáo của CSVN đang gia tăng một cách trơ trẽn, chứng tỏ nỗi sợ hãi đang tăng dần trong guồng máy cai trị CSVN.
Cả một hệ thống tự hào là “Đỉnh cao trí tuệ” mà hệ thống luật pháp lúc nào cũng mơ hồ, loạn xà ngầu như một mớ giấy lộn, gạn lọc mãi mới đưa ra được cái điều 88, nhai đi nhai lại như một tấm giẻ rách, không hơn, không kém. Bất cứ điều gì xẩy ra, chế độ cảm thấy sợ, đều được quy vào điều 88. Hầu như cả chế độ chỉ có điều 88 làm bùa hộ mạng, nó như một loại “phép thần thông” để bảo vệ tất cả những khuất lấp, gian tà , ngu xuẩn của họ. Nếu cho rằng điều 88 này được chế độ coi như một ”phép thần thông” thì cũng chẳng ngoa tí nào, vì chính điều 88 được áp dụng trên mọi lãnh vực từ to đến bé, nó được biến hoá theo từng sự việc. Kèm theo điều 88 là một đống nghị quyết, quyết định được đưa ra lả tả như lá muà thu, nhiều cái đã chửi vào mắt nhau chan chát, khiến người dân cũng chẳng hiểu nhà nước muốn nói gì, và có lẽ chính nhà nước cũng không hiểu được họ đang làm cái giống gì nữa, chỉ biết đưa ra như một cái máy vô hồn đẻ tự trấn an mà thôi.
Bằng chứng mới đây, khi cái quyết định 97 ra đời, nhằm bịt miệng Viện Nghiên Cứu Phát Triển (IDS) nói riêng và toàn dân nói chung. Rất may, Viện Nghiên Cứu Phát Triển đã nhận ra cái quái đản của nó, và cũng nhận ra họ không thể chấp nhận bị một lũ xuẩn khống chế, bịp bợm thên nữa và cũng chẳng có biện pháp nào thay đổi hoàn cảnh., đành phải tuyên bố giải tán để bày tỏ lập trường. Sự giải tán Viện Nghiên Cứu Phát Triển là một quyết định sáng suốt như cho dám lãnh đạo CSVN biết rằng họ không thể chấp nhận cái cảnh “Thằng khôn đi học, thằng ngu làm thầy” như hoàn cảnh tréo ngoe cuả Quân Cán Chính VNCH đã phải gánh chịu sau năm 1975 trong cái trại tù rải rác trên toàn cõi đất nước. Ngoài ra, sự kiện giải tán Viện Nghiên Cứu Phát Triển cũng chứng tỏ sự sơ hãi không còn nằm trong họ, mặc dù họ cũng là một cơ quan thuộc guồng máy ngu xuẩn CSVN.
Nhận thấy quyết định 97 đã vô hiệu, không thể làm những con ngưởi “trí thức” trong Viện Nghiên Cứu Phát Triển phải sợ hãi để tiếp tục cúi đầu đóng vai trò con rối của chế độ. Ngày 14-10-2009, Nguyễn tấn Dũng lại phải tiếp tục lên tiếng hù dọa “sẽ xử lý những phát biểu thiếu tinh thần xây dựng của một số cá nhân thuộc Viện Nghiên Cứu Phát Triển.”. Trước lời tuyên bố này của Dũng, lại nhớ đến lời nói của ông Boris Yeltsin”Cộng Sản không thể thay đổi mà phải dẹp bỏ”. Đúng vậy, dù đang hội nhập với thế giới văn minh của thế kỷ 21, nhưng đường lối, chính sách và hành xử cũng chẳng khác nào tên đại đồ tể Hồ Chí Minh từ thập niên 40 khi xưa. Cũng cái lối đưa quyết định, không sợ thì hù doạ, doạ mãi không sợ thì cuối cùng mang cái bùa điều 88 là xong. Tuy nhiên, nhìn vào hoàn cảnh đất nước ngày nay, dân trí đã không còn như xưa, hơn nữa hệ thống truyền thông toàn cầu đã quá tối tân đã đưa nhân loại đến gần nhau hơn. Do đó, CSVN cũng sẽ không còn biện pháp nào để làm tăng được chữ sợ trong lòng dân tộc. Và ngược lại, họ phải sợ trước sự ý thức của người dân.
Xoay quanh sự kiệm “Quyết Định 97”, Tiến sĩ Nguyễn Quang A, nguyên viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển đã gửi thư lên Bộ Tư Pháp và Quốc Hội yêu cầu phải "xử lý" cái “Quyết Định 97”. Theo Ts A nhận định, “Quyết Định 97” là một quyết định phi pháp và vi hiến, nó xâm phạm quyền làm người một cách trầm trọng, và tất nhiên sẽ đưa đất nước từ suy thoái này đến suy thoái khác. Bởi lẽ, CSVN sẽ không bao giờ có được những đóng góp ích quốc, lợi dân từ giới “trí thức”, để tiếp tục đưa đất nước lăn lộn trong cái đói khổ, u mê, lạc hậu mà thôi. Đồng thời ông A sẵn sàng chấp nhận những hậu quả xấu nhất với “lá bùa 88” cuả CSVN như những ông Phạm Văn Trội, Vũ Hùng, Nguyễn Xuân Nghĩa, và hàng chục nhưng nhà trí thức khác đang và đã cất lên tiếng nói, đòi các quyền căn bản của con người cho tất cả dân tộc Việt Nam.
Trở lại chữ “Sợ & Không Sợ”, giải thưởng nhân quyền Hellman/Hammett do Human Rights Watch (Tổ chức theo dõi nhân quyền) năm nay đã quyết định trao cho sáu “ Nhà Đấu Tranh Dân Chủ” Việt Nam . Trước sự kiện bất ngờ này đại đa số nhận định, đối với người Việt Nam sáu giải nhân quyền này đã thay cho lời xác định của nhân loại là nhưng gì các “Nhà Đấu Tranh Dân Chủ” đã và đang thực hiện chính là những tiếng nói lương tri của nhân bản. Đồng thời, đây cũng là một chất liệu làm tăng sự sợ hãi của tập đoàn cai trị CSVN và cũng sẽ góp phần vào công việc triệt tiêu nỗi sợ hãi trong lòng dân tộc. Hơn nữa, sáu giải nhân quyền này cũng như một thông điệp nhắn nhủ những người Việt Nam can đảm trực diện trong đấu tranh hiểu được, sự chiến đấu cho lý tưởng và lương tri của họ rất cao cả và cũng sẽ chẳng bao giờ bị cô đơn.
Tóm lại, thế giới ngày nay không còn cách biệt như ngày xưa, dân trí Việt Nam cũng không còn nằm trong thập niên 30- 40. Như vậy, tập đoàn CSVN cũng không còn cơ hội bịp bợm, hoặc phát triển thú tính một cách mạnh mẽ, trắng trợn như trước. Do đó, đây chính là thời điểm tất cả người dân chúng ta trong cũng như ngoài nước cần nên quan tâm nhiều hơn, thực hiện sự ý thức và chính nghĩa trước tình hình bi đát của đất nước. Đồng thời cũng là lúc đánh tan sự sợ hãi trong nội tâm, phát huy truyền thống “Uy vũ bất năng khuất” của tiền nhân trên dòng lịch sử, để cùng nhau đứng lên tạo một trang sử mới hào hùng, rửa được nỗi nhục cho Tổ quốc và nỗi hờn của dân tộc do bọn tội đồ CSVN gây ra.
Phạm Thanh Phương
Phạm Thanh Phương
Đọc “Thư Cáo Lỗi” về việc hủy bỏ “Ngày Truyền Thống Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức lần thứ 58” do Trưởng Ban Tổ Chức Nguyễn Hoàng Dũng ký ngày 07-10-2009, chúng tôi cảm thấy rất bàng hoàng vì không hiểu tại sao lại xẩy ra câu chuyện quái đản như thế này. Một sự việc không thể xẩy ra, nhất là trong hoàn cảnh lưu vong, khi con đường dang dở đối với Tổ quốc và dân tộc vẫn chưa toại nguyện, đang cần nhiều bàn tay, khối óc của mọi tầng lớp, nhất là tập thể cựu quân nhân, trong đó thành phần “Thủ Đức” vẫn là một lực lượng quan trọng. Để đi tìm nguyên nhân, chúng tôi có thăm hỏi một số vị niên trưởng và biết được một số việc có thể nói là rất đau lòng, e rằng nó sẽ mang ảnh hưởng xấu đến danh dự “Gia Đình Thủ Đức NSW” nói riêng và tất cả Cựu Quân Nhân nói chung.
Ngược dòng thời gian nhiều năm trên đất Úc, có lẽ ai quan tâm sinh hoạt trong cộng đồng đều không thể phu nhận “Hội Thủ Đức NSW” là một tập thể trước sau như một, vẫn một lòng chung thủy giữ vững tinh thần đoàn kết “Huynh Đệ Chi Binh” và truyền thống “Cư an- Tư nguy”, giữ gìn nhân cách và đề cao tinh thần “Tổ quốc- Danh dự- Tránh nhiệm” của người lính QL/VNCH một cách trọn vẹn qua hành xử nội bộ, và những tích cực gắn bó với CĐ sở tại trong mọi sinh hoạt, từ văn hoá đến chính trị, đấu tranh. Tuy nhiên, rất tiếc kể từ khi Liên danh ông Đào Hữu Xuân đắc cử nhiệm kỳ 2007-2009 đến nay, trong Hội đã xẩy ra những chuyện không hay, làm phiền lòng rất nhiều hội viên. Đồng thời những chuyện không hay ấy cũng để lại một cái nhìn không mấy thiện cảm từ đồng hương đối với “Hội Thủ Đức NSW” nói riêng mà tập thể Cựu Quân Nhân nói chung.
Mặc dù đã xẩy ra nhiều việc không hay, nhưng vì tinh thần “Huynh Đệ Chi Binh”, không ai muốn lên tiếng trên công luận, e rằng lại vướng vào cái cảnh “Vạch áo cho người xem lưng”. Tuy nhiên, sau khi được tin “Hủy Bỏ Ngày Truyền Thống Liên Trường VKTĐ lần thứ 58” qua lá “Thư Cáo Lỗi” mà ông Nguyễn Hoàng Dũng đã ký ngày 07-10-2009, chúng tôi đành phải mạnh dạn góp ý trước công luận, mong rằng có thể nới rộng dư luận, bảo vệ danh dự của Hội và niềm tin chung trên con đường dang dở của cuộc chiến chống CS, tìm tự do, an bình cho quê hương.
Nhân đọc “Thư Cáo Lỗi” về việc hủy bỏ “Ngày Truyền Thống Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức lần thứ 58”, cũng xin nhắc lại về Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức được thành lập vào ngày 09-10-1051 và trong 24 năm (1951-1975), trường đã đào tạo được tất cả 55 ngàn sỹ quan, trong đó có 23 vị tướng phục vụ trong tất cả mọi Quân Binh chủng trong QL/VNCH. Với con số này, có lẽ ai cũng hiểu Sỹ Quan Trừ Bị Thủ Đức là một lực lượng chỉ huy chủ lực cuả cuộc chiến “Bảo Quốc-An Dân” trước năm 1975. Cũng theo truyền thống ấy, ngày nay trong các Hội đoàn, Đoàn thể, các tổ chức Cộng Đồng, đảng phái chính trị đấu tranh chống CS, đi tìm tự do, dân chủ và nhân quyền cho dân tộc, thậm chí cả trong giới truyền thông, lực lượng cựu SQTB Thủ Đức cũng vẫn là một con số đông nhất, đã và đang hiện diện trên mọi lãnh vực. Vì vậy, kể từ khi CS cưỡng chiếm miền Nam VN 30-4-1975, tất cả các Hội Cựu SVSQ/TBTĐ trên toàn thế giới đều đồng thuận chọn ngày thành lập Liên Trường làm “Ngày Truyền Thống”, để hàng năm anh em có cơ hội tề tựu, cùng nhớ về trường “mẹ”, hãnh diện và ghi nhớ lời “mẹ’ dạy trong bổn phận và trách nhiệm đối với Quốc gia, dân tộc. Nói về “Ngày Truyền Thống Liên Trường VKTĐ”, một số người cho rằng cũng có thể xem như là một ngày giỗ, để những đứa con có dịp trở về, xiết chặt tay nhau cùng tưởng nhớ công đức sinh thành, dưỡng dục của song thân, cùng nắm tay nhau, hãnh diện đứng thẳng làm người hữu dụng của xã hội. Như vậy, sự đơn phương hủy bỏ “Ngày Truyền Thống Liên Trường VKTĐ” có thể nói là một hành động ngỗ nghịch, vong bản. Nếu thu hẹp cá nhân, thì nó tượng trưng hành động vô kỷ luật của quân nhân trong QL/VNCH, thậm chí hành động vô kỷ luật này lại xẩy ra ở giai cấp chỉ huy như Ban Tổ Chức “Ngày Truyền Thống Liên Trường VKTĐ” và Ban Chấp Hành của Hội.
Tóm lại, để giữ gìn và bảo vệ uy tín và hình ảnh tốt đẹp của người quân nhân QL/VNCH nói chung và “Gia Đình Thủ Đức NSW” nói riêng, thiết nghĩ các vị niên trưởng nên cố gắng khuyên bảo và giải quyết thỏa đáng sự việc. Riêng ông Đào Hữu Xuân, thiết nghĩ ông cũng là một người có lòng. Nhưng có lẽ vì một số kẻ thiếu chính tâm thao túng nên dẫn đến những việc đáng buồn như đã xẩy ra. Rất mong ông nghĩ lại để có thể đóng góp công sức và tài năng của mình một cách hữu ích cho Hội nói riêng và trong bất cứ vị trí nào nói chung.
Sau cùng, cũng xin nhắc lại truyền thống “Cư An- Tư Nguy” của trường qua bài thơ Hán - Việt sau đây, mặc dù không nhớ rõ tác giả.
“Nguy giả an kỳ vĩ giả dã
Vong giả bảo kỳ tồn giả dã
Loạn giả hữu kỳ trị giả dã
Thị cố quân-tử an nhi bất vong nguy
Tồn nhi bất vong vong
Tri nhi bất vong loạn
Thị dĩ nhân an nhi quốc gia khả bảo gia”
Có nghĩa là:
“Người bị nguy là bởi cứ yên vui nơi ngôi phận mình
Bị mất là bởi chỉ lo tới cái hiện có
Bị loạn bởi tin cậy cái trị có sẳn,
Bởi thế, người quân-tử lúc sống yên không quên cái nguy
Còn không quên lúc mất
Khi thịnh-trị không quyên cảnh loạn suy,
Như vậy mới yên thân mà giữ được nước nhà”
Phạm Thanh Phương