"...trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng..."

Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

Trong không khí nôn nao của một mùa xuân mới, người Việt khắp nơi trên thế giới hầu như vẫn mang nặng trong mỗi cá  nhân những ưu tư, trăn trở của từng hoàn cảnh khác nhau. Tại hải ngoại, nhìn vào một số nơi cũng vẫn có những sinh hoạt chợ tết, diễn hành, chào cờ đầu năm, hay những bữa tiệc “tống cựu, nghinh tân” của một số hội đoàn, đoàn thể hay tổ chức Cộng Đồng. Tuy vậy, có lẽ cũng không phải một niềm vui trọn vẹn, mà chỉ là phần hình thức để níu kéo những nét đặc thù trong nền tảng văn hóa truyền thống của dân tộc, còn lại thực chất ai cũng cảm thấy có cái gì đó mất mát một cách bàng bạc, bập bềnh. Thực sự, những muà xuân trên đất khách đã không còn đầy đủ niềm vui của tình tự quê hương như những muà xuân của một thời xa xưa tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975, mặc dù đó chỉ là những mùa xuân trong khói lửa. Cũng có một số người nghĩ rằng, nếu về nước ăn tết, chắc chắn sẽ tìm lại một mùa xuân thực sự của quê hương, một mùa xuân vui tươi được thắm tình người. Nhưng rất tiếc, tất cả chỉ là những ảo tưởng quá xa rời thực tại với những ngỡ ngàng, trăn trở ưu tư, ngoại trừ một số người vô tâm, sống hoàn toàn theo bản năng.  

Theo nhiều tin tức cho biết, tết năm nay tại quốc nội hầu như không khí  đã trở nên ảm đạm hơn mọi năn, ngoại trừ  một số thành phần quan chức trong guồng máy CS có cơ hội “làm ăn”, những người buôn bán lớn, hoặc những người có thân nhân ở ngoại quốc trở về vui xuân cùng gia đình. Còn lại, đại đa số thì hầu như đang phải nhìn một muà xuân méo mó, dúm dó vì thiếu thốn tài chánh đến mức cạn kiệt. Riêng thành phần công nhân vẫn đang mỏi mắt mong chờ món tiền cuối năm, nhưng chẳng ai thấy, có nơi cả hai tháng rồi cũng chẳng được lãnh lương, như thế thì tết ở đâu, xuân ở đâu mà tìm. Thậm chí, có những người từ quê ra tỉnh làm việc, tết đến không đủ tiền trả tiền nhà trọ thì lấy đâu ra tiền để mua vé xe về quê xum họp với gia đình. Vì thế hiện tượng lang thang vất vưởng đầu đường, xó chợ chờ lương năm nay cũng nhiều hơn mọi năm. Đó là chưa kể phải lo sợ đến sự “an toàn của thực phẩm” trong những ngày tết, ai cũng sợ khi tiền ăn  chưa có, thì tiền đâu để vào bệnh viện nếu có gì xẩy ra.  

Riêng thị trường hàng hoá tại quốc nội trong những ngày cận tết đột nhiên cũng trở nên rất xáo trộn đến chóng mặt, nhất là những mặt hàng thuộc loaị nhu yếu. Điều này đã tạo thêm rất nhiều khó khăn cho đại đa số giới bình dân, vốn dĩ “đã nghèo lại còn mắc phải cái eo”, tiền bạc thiếu thốn lại gặp vật giá leo thang thì không biết phải làm sao bây giờ, vì vậy không khí tết tại Việt nam đã trở nên tất tưởi, ngược xuôi hơn mọi năm. Sự tất tưởi, ngược xuôi này không mang theo những nét vui tươi hớn hở chờ đón muà xuân mới mà thay thế vào đấy những nét ư tư, vất vưởng, sự ngược xuôi nhớn nhác với những đôi mắt đăm chiêu lạc thần, hầu như không còn thấy những nụ cười mừng xuân dù chỉ là những nụ cười gượng gạo, không trọn vẹn.  

Cũng trong tình hình khó  khăn ấy, nhiều người cho rằng, số lượng “Việt Kiều” về trong dịp tết năm nay cũng đông hơn mọi năm để đã tạo thêm ”sinh khí” cho sinh hoạt xã hội và tô điểm thêm nét đẹp của ngày xuân, đồng thời đóng góp một bàn tay đáng kể trong lãnh vực ngoại tệ đối với đảng và nhà nước. Do đó, đảng và nhà nước cũng tỏ ra rất “hồ hởi, phấn khởi” ưu ái để đón tiếp “Việt Kiều”. Tuy nhiên, nhiều người cũng cho rằng, sự xáo trộn thị trường trong những ngày cận tết, một phần cũng vì hiện tượng “Việt Kiều” hưởng ứng lời kêu gọi của đảng và nhà nước CSVN một cách hơi “tích cực”, họ mang những đồng tiền thơm phức từ hải ngoại về tiêu xài phung phí trên đất nước. Điều này, dù vô tình hay cố ý cũng đã đóng góp một phần lớn trong hiện tượng thị trường nhu yếu của những ngày tết bị phá giá. Từ đó, hoàn cảnh của đại đa số dân lạo động hoặc thôn quê được tăng thêm phần khó khăn, tất tưởi, bương trải ngược xuôi. Và đây cũng là điểm son để đảng và nhà nước ưu ái, mặn nồng hơn.   

Riêng tại hải ngoại, mặc dù vật chất dư thừa, cũng có những sinh hoạt của một ngày tết cổ truyền, nhưng đại đa số những người còn nặng lòng với quê hương, dân tộc vẫn cảm thấy mất đi hẳn niềm vui, họ cũng chẳng biết muà xuân có đến hay không nữa.Càng đến những ngày cận tết thì trong tâm não lại lóe lên nhiều ưu tư, trăn trở hơn thường ngày. Rất nhiều người cho rằng, từ hơn ba mươi năm qua họ cũng chưa  thấy được một muà xuân nào thực sự có ý nghĩa như những ngày cách đây hơn ba mươi năm của một miền Nam khi xưa. Tất cả những không khí vui tươi, tình tự của mùa xuân đã thay vào bằng hình ảnh của cả một dân tộc lầm than, một giang sơn uất nhục do đảng và chế độ CSVN tạo ra. Muà xuân của chu kỳ tất định vũ trụ đã đến, nhưng hầu như không còn được nghe được tiếng chim líu lo chào mừng, mà chỉ nghe được những tiếng than thở, tiếng gông cùng khua vang từ bên kia bờ đại dương vọng về nơi tâm thức.  

Riêng năm nay, muà  xuân đã đến bằng những tiếng thở dài của tổ quốc, muà xuân thực sự là những bản án phi nhân mà CSVN đã áp đặt lên những tâm hồn yêu nước, là những tiếng lạy lục van xin của những trẻ em đang bị hành hạ ép buộc làm nô lệ tình dục tại các nước lân bang, là những tiến rên rỉ chua xót của những chị, em lang thang lao động nước ngoài hay đang ngụp lặn trong vũng lầy đen tối nơi xứ người, là những tiếng kêu thất thanh, những tiếng cầu khẩn từ những nỗi đoạn trường của ngư dân Việt Nam bị Trung cộng cướp bóc, hành hạ, là tiếng nấc của biển đông, tiếng nghẹn ngào, quằn quại của những đợt sóng Hoàng Sa hay những vết thương hằn sâu trên thân thể giáo dân, những tiếng cầu kinh ảo não vẫn vọng về từ Thái Hà, Tam Toà, Đồng Chiêm, Bát Nhã.. Và sau cùng là những đôi mắt lạc thần ngược xuôi của cả một dân tộc. Tất cả những hình ảnh ấy đã tạo nên một muà xuân héo uá, ủ rũ của đại đa số người Việt Nam trên toàn thế giới. Như vậy, mùa xuân thực sự đang ở đâu, còn sống hat đã chết....?  

Nhìn vào hoàn cảnh quê  hương và dân tộc dưới chế độ CSVN, có  lẽ khó có ai có thể phủ nhận muà xuân thực sự của người Việt Nam đã chết, chết một cách quằn quại đớn đau, chết dần chết mòn trong tủi nhục vì loài vi khuẩn CSVN đục khoét. Vì vậy, những ai còn nghĩ đến quê hương, dân tộc, nghĩ đến tiền đồ của tổ quốc, xin hãy cố gắng gạt bỏ đi tất cả những vị kỷ thấp hèn của thế nhân, hãy cùng dắt díu nhau đi tìm một muà xuân thực sự ấm no, hạnh phúc cho tổ quốc, đồng bào. Muốn có một muà xuân thự sự như mong muốn, tất nhiên đảng và chế độ phi nhân CSVN phải ra đi. Muốn tẩy uế vi khuẩn CS trên quê hương, trước tiên cần cảnh giác tẩy trừ bè lũ Việt gian đang len lỏi lũng đoạn trong các hội đoàn, đoàn thể, tổ chức Cộng Đồng. Tẩy chay và tránh xa những luận điệu tuyền truyền “Giao lưu - Nối kết- Về nguồn- Đem tình thương xoá bỏ hận thù để cùng canh tân đất nước”,v,v... Từ đó mới mong có thể kết hợp sự mạnh trong và ngoài nước, cùng nhau đi tìm lại một muà xuân thực sự để hờn cho dân và rủa nhục cho nước . 
 
Xuân Buồn Xứ Lạ

Đêm xứ lạ, bên thềm nghe lá đổ
Khung trời buồn hờ hững ánh trăng tan
Hồn lênh đênh theo gió cuộn mây ngàn
Hương trừ tịch, sương về ôm mái tóc
Đã bao xuân, lê bước đời ô trọc
Gót chân mòn, gối mỏi, kiếp lưu vong
Nợ quê hương còn canh cánh bên lòng
Muốt trả đứt, dòng đời hoài dang dở
Đón xuân sang, nhạt nhòa nghe tiếng thở
Cùng cỏ cây giăng mắc mối hận lòng
Xin thời gian thu gọn kiếp long đong
Để được thấy mùa xuân hồng đất mẹ
Bước tha hương, ôi quá nhiều ngã rẽ
Người miệt mài, đầy rẫy kẻ vô tri
Quên quê hương, quên mối hận từ ly
Quên tất cả một khung trời nghiệt ngã
Đời vất vưởng, kìa tâm hồn chắp vá
Khát lợi danh, loang lở cả tâm hồn
Non sông buồn, dòng suối lệ đang tuôn
Ôi! " Tổ quốc- Danh dự" ai "Trách nhiệm"

 
•  Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

-Phạm thanh Phương-

Trong không khí nhộn nhịp “Tống cựu nghinh tân”, tiễn chân một con trâu già ù lỳ chậm chạm ra đi, để nghinh đón một con cọp dũng mãnh đầy thú tính trở về, đảng và nhà nước CSVN đã công bố một danh sách với hàng ngàn nhân vật tiêu biểu đạt thành tích “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Trong danh sách này, Hồ Xuân Mãn, Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên- Huế là một nhân vật có thể tạm coi là nổi bật, được đảng và nhà nước rêu rao nhiều ngày trên các hệ thống truyền thông và chính bản thân Hồ Xuân Mãn cũng đã được nhiều lần tự nói về thành tích đạo đức và những nỗ lực phát triển trong khu vực thẩm quyền. Trước hiện tượng này, dư luận trong nước cũng đã xuất hiện một làn sóng khá xôn xao và kéo dài trong nhiều ngày qua. Men theo nguồn dư luận, một số cho rằng đây là một câu chuyện khôi hài, đảng và nhà nước CSVN đã nhầm lẫn tuyên dương một nhân vật không tương xứng với danh hiệu, tạo nên một đề tài đàm tiếu, làm mất uy tín của đảng và điếm nhục cho nền tảng đạo đức của XHCN. Tuy vậy, đại đa số lại cho rằng, sự kiện Bí thư Thành Ủy Hồ Xuân Mãn được tuyên dương là một hình ảnh tiêu biểu đạt thành tích “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” hoàn toàn chính xác, mặc dù chưa đạt được một phần như HCM ngày xưa. Sự kiện cũng chứng tỏ được sự sáng suốt của đảng và nhà nước CSVN, không có gì đáng phàn nàn chê trách và nên hoan hô hưởng ứng.

Nói về hành xử đạo đức cuả Hồ Xuân Mãn trong ba năm “phấn đấu” vừa qua, trên báo Lao Động số 327, ra ngày 26 tháng 11 năm 2005, có một bài viết ngắn mang tựa đề "Đất cố đô có vua" đã đi vào quên lãng, nhưng nay lại được đăng tải khắp nơi. Theo bài báo viết:
“Mấy hôm nay, nơi tôi đang sống, từ lề đường đến công sở, đi đâu cũng nghe người dân, cán bộ, nhỏ to đầy hả hê chuyện ông "quan" to nhất tỉnh vừa bị một nữ tiếp viên nhà hàng "dạy" cho bài học muối mặt về ứng xử với phụ nữ ngoài xã hội..”
Bài báo viết tiếp :

“Chuyện là một bữa trưa đẹp trời, "quan" lớn cùng một số "quan" nhỏ vào ăn trưa ở một nhà hàng ven đô. Một nữ tiếp viên trẻ, mới đến làm việc của nhà hàng, như lệ thường, đến đon đả mở bia, tiếp đá cho các "quan". Và (có lẽ cũng như thường lệ), "quan" lớn nhất đã không cầm lòng trước nhan sắc của cô tiếp viên chỉ đáng tuổi con mình nên đã... ghì đầu cô ta lại rồi hôn đánh chụt một cái vào má, trước sự chứng kiến của quan khách có mặt trong nhà hàng hôm đó! Quá bất ngờ và cảm thấy nhục nhã bởi hành vi của vị "quan" đáng kính, cô tiếp viên đã đáp trả ngay lập tức bằng một cái tát như trời giáng vào mặt "quan"...”. Chuyện đến đây chưa hẳn đã có đoạn kết, nếu "quan" hành xử như một người có văn hoá (lỡ có tí bia rượu), chẳng hạn, nói một lời xin lỗi. Đàng này, sau một lúc bỏ đi vào nhà vệ sinh, "quan" quay trở ra, mặt hầm hầm chỉ tay, lớn tiếng: "Đuổi, đuổi ngay cô tiếp viên không biết làm việc kia!". Tất nhiên chủ quán thanh toán tiền công và cho cô nghỉ việc ngay sau đó. Chưa hết, "quan" còn doạ sẽ cho đóng cửa, không chỉ nhà hàng này mà còn cả...các nhà hàng bên cạnh! (Trích từ RFA "Những điều ông Hồ Xuân Mãn học từ ông Hồ Chí Minh?" ngày 01-02-2010).
Thực ra đây chỉ là một sự kiện điển hình, hành vi dâm ô bỉ ổi này của Hồ Xuân Mãn chỉ là một chuyện rất nhỏ trong cả ngàn câu chuyện khác đã xẩy ra trong những năm “phấn đấu” để đạt được thành tích “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” hôm nay. Tuy nhiên, nếu nói rằng chỉ một sự kiện này mà Hồ Xuân Mãn có thể đạt được thành tích thì khó có thể ai chấp nhận, vì nó còn thua xa nhân vật Lương quốc Dũng, Phó chủ nhiệm Ủy Ban Thể Dục Thể Thao Hà Nội đã “xả xui” bằng cách cưỡng dâm một bé gái mới 13 tuổi 4 tháng, hay sự kiện Thầy Hiệu Trưởng khả kính một trường Trung học tại Hà Giang đã quan hệ tình dục hàng loạt với nhiều nữ sinh ở tuổi vị thành niên, dể đổi điểm thi, v,v... Như vậy chắc chắn bên trong Hồ Xuân Mãn còn nhiều điều dã man, dâm loạn khác khủng khiếp hơn nữa. Có như thế mới đạt được chỉ tiêu để được đảng và nhà nước CSVN tung hô, tuyên dương.

Nói về tư tưởng đạo đức của HCM, nếu chịu khó tìm hiểu, người ta sẽ thấy nó chẳng khác gì một đống rác bầy hầy, đầy rẫy những con vi khuẩn tàn nhẫn, băng hoại. Một khi bị lây nhiễm, nó sẽ làm cho não trạng con người bị tê liệt, không bao giờ tự chủ được chính mình, mà chỉ biết ngụp lặn trong cái vũng lầy của vô thức, tung hô khẩu hiệu như một cái máy và hành xử hung hãn, dã man, như một loại dã thú cuồng điên.

Nhìn lại lịch sử từ hơn nửa thế kỷ qua, người ta nhận thấy đạo đức của HCM đã được gói ghém một cách rất kỹ lưỡng bằng tất cả những khủng bố đầy máu tanh, và những hành vi hoang dâm vô độ, vô tình , vô nghĩa, vô thủy, vô chung... Cũng theo nhiều tài liệu cho biết, riêng cuộc đời tình ái của HCM là cả một "thiên tình sử" bệnh hoạn, ngoài bản chất dâm loạn, nó còn mang theo cả một sự tàn nhẫn, dã man vong tình, bội nghĩa, mà câu chuyện cái chết của bà Nông Thị Xuân là một điển hình.

Trở lại hiện tình đất nước, có lẽ hiếm ai có thể phủ nhận "Đạo đức HCM" chính là những nỗi oan khiên của dân tộc và kéo dành trong suốt dòng lịch sử hơn nữa thế kỷ qua. Điển hình cái “đạo đức” ấy là cả hàng triệu người dân vộ tội trong những cuộc mưu sát tập thể như chiến dịch "Cải cách ruộng đất, Nhân văn Giai Phẩm, Tết Mậu Thân (1968), Muà hè đỏ lửa (1972) và những trại tập trung Quân, Cán Chính VNCH sau năm 1975" ... "Đạo Đức" HCM, chính là một quyền lực được kết tinh bằng súng, đạn, máu, lửa, khống chế và tàn sát sinh linh. Cái ưu việt "Đạo Đức" của HCM chính là bản chất vong nô bệnh hoạn, làn tay sai của ngoại bang, tàn sát dân tộc mình một cách say mê chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Và cũng chính cái "Đạo Đức" đốn mạt ấy đã làm mờ nhạt hình ảnh dã man của Hitler trong đệ nhị thế chiến... Đó là chưa kể đến việc cắt đất, nhượng biển cho Trung cộng như tất cả đã thấy hôm nay. Như vậy, CSVN tiếp tục phát huy cái “Đạo đức” đốn mạt ấy thì tương lai đất nước và dân tộc sẽ đi về đâu, có lẽ ai cũng có thể hiểu.

Một câu hỏi được đặt ra ở đây, tại sao trên thế giới, người ta không có cái "đạo đức HCM", thì đại đa số đất nước họ mỗi ngày một tiến bộ, đời sống xã hội mỗi ngày một thăng hoa, hạnh phúc, kỷ cương đạo đức được phát triển. Trong khi đó, Việt Nam dưới chế độ CS , cả nước luôn phải "học tập đạo đức HCM", thì xã hội mỗi ngày một băng hoại, đói nghèo, tệ nạn đĩ điếm, ma túy, bệnh hoạn khắp nơi, kỷ cương bát nháo, đạo đức suy đồi. Biết bao nhiêu nỗi oan khiên, đã biến cả một dân tộc văn minh hào hùng trở thành những tên nô lệ của thế kỷ hôm nay.

Tóm lại, dựa trên tình hình thực tế của mọ đất nước tan hoang, băng hoại về mọi mặt, mong rằng tất cả người dân Việt Nam trên toàn thế giới cần phải cố gắng hơn nữa, hầu có thể tập hợp chính nghĩa, đồng tâm hội tụ, hầu có thể tiêu hủy được cái "Đạo Đức" đốn mạt của HCM để lại mà CSVN đang rêu rao lan tràn trên khắp nẻo quê hương. Có như vậy, chúng ta mới mong giải thể được chế độ băng hoại, xuẩn động vong nô CSVN, lúc đó mới có thể tập trung khả năng thăng hoa đất nước và thăng tiến dân sinh, tái tạo giang sơn sau hơn nửa thế kỷ đau thương dưới chế độ đốn mạt CSVN . Tuy nhiên, muốn tập hợp được sức mạnh chính nghĩa, việc đầu tiên chúng ta cần sáng suốt nhận định tình hình, cảnh giác với những trận "hoả mù" của CSVN và đám tay sai đưa ra như những luận điệu Hòa hợp, hòa giải, xoá bỏ hận thù, quên đi quá khứ, dùng tình thương cảm hoá CS để cùng “Canh Tân đất nước”, v,v...Tất cả những luận điệu này chỉ là sự lừa bịp của CSVN và đám tay sai, những kẻ lương tri đã bị khánh kiệt và tâm hồn đã thối rữa bởi loại vi khuẩn HCM để lại.


Phạm thanh Phương


Phạm thanh Phương
Thấm thoát lại một năm  trôi qua, một năm người Việt khắp nơi trên thế giới, trong nước cũng như hải ngoại đều bương trải miệt mài với nhiều ư tư, trăn trở trên con đường  đấu tranh đi tìm lại ánh sáng tự do, dân chủ và nhân quyền cho quê hương Việt Nam. Nhìn lại đoạn  đường 365 ngày đã qua, không ai có thể phủ nhận năm 2009 là một năm người Việt khắp nơi đã đạt được những thành quả nổi bật trong việc đấu  tranh chống lại VC, và đã vạch trần được bản chất vong nô, hèn nhược cuả CSVN trước công luận thế giới.   
 
Tại quốc nội, vào tháng Hai và tháng Ba năm 2009, sau khi thủ tướng VC Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định số 167 với nội dung  "phê duyệt quy hoạch phân vùng  thăm dò, khai thác, chế biến sử  dụng quặng Bauxite giai đoạn 2007  đến 2015", một làn sóng phản  kháng đã nổi lên bằng những cuộc biểu tình của một số thanh niên, sinh viên và một số người được mệnh danh là "nhà đấu tranh dân  chủ", tất cả tưởng chừng như một ánh  sáng của ý thức quê hương đã ló dạng để vực dậy sức mạnh của dân  tộc, đưa tiễn chế độ độc tài dã man CSVN đi vào hố sâu của lịch sử. Tuy nhiên, tất cả đã bị bóp nghẹt một cách tức tưởi, thô bạo và đến nay có còn chăng chỉ là những dư âm đọng lại một cách rất mơ hồ bàng bạc theo thời gian. Kế tiếp là sự kiện giáo xứ Tam Tòa cũng đã bùng lên như một  ngọn lửa của niềm tin, để rồi kéo theo hàng loạt những sự kiện khác đòi hỏi CSVN trả lại công lý và sự thật trải dài trên khắp nẻo quê hương. Nếu chỉ nhìn vào hình thức, những sự kiện này chỉ mang tính bộc phát, rồi bị dập tắt một cách thô bạo dã man, nhưng tất cả đã để lại cho chế độ man rợ CSVN những lo lắng, chao đảo bất ổn và sợ sệt triền miên.  
 
Để khoả lấp những bất ổn, sợ sệt ấy, CSVN đã triển khai một  chiến dịch hoả mù bằng cách lùng  bắt một số "nhà  đấu tranh dân chủ"  như Lê Công Định, Trần Anh Kim  và một số Blogger chỉ vì họ đã thể hiện những dòng  tâm huyết, liên quan đến lãnh vực  nhân quyền và sự tồn vong của tổ quốc trước sự xâm lăng trắng trợn của Trung cộng. Với chiến dịch  này, CSVN mong rằng sẽ có thể chặn đứng tất cả những tin tức liên  quan đến bản chất vong nô và hành  động buôn dân, bán nước của đảng và chế độ lan rộng đến toàn dân. Đây cũng chỉ là một hành động tự  trấn an của đảng và chế độ CSVN  trước trào lưu đấu tranh đòi tự do  dân chủ đang lan rộng. Tuy nhiên, trong thế trận “Gió càng mạnh thì lửa cháy càng cao”, mặc dù trên hình thức chỉ có thể thấy được những bản án phi nhân đã và đang khoác lên những người mang nặng tâm huyết với quê hương,  nhưng chắc chắn bên trong những sự kiện ấy chắc chắn đã có những đợt sóng ngầm đang cuộn nhanh trong lòng dân tộc, và trong một ngày nào đó không xa, những cơn sóng ấy sẽ trở thành  những trận cuồng lưu, cuốn trôi tất  cả những tàn ác dã man, vong nô,  hèn nhược và chế độ CS sẽ bị chôn sâu dưới lòng biển Thái  bình, trả lại an vui và quyền tự quyết về với dân tộc. Điều này, chính những con người CS cũng  hiểu rõ, bởi thế lúc nào họ cũng cố gắng dùng mọi cách ngăn chặn, dù phải dùng những thủ đoạn hèn hạ, trơ trẽn, bỉ ổi nhất. Tuy vậy, cái gì đến rồi sẽ cũng phải đến, bánh xe lịch  sử sẽ không ngừng chuyển động và chắc chắn ánh bình minh sẽ phải trở về sưởi ấm và soi sáng trên mảnh quê hương đã đau khổ, khô cằn, tan tác từ gần một thế kỷ qua. 
 
Cũng trong chiều hướng tự trấn an, ngày 24-7-2009, Nguyễn Tấn  Dũng, Thủ tướng CSVN đã đưa ra Quyết định mang số 97/2009/QĐ-TTg "Quy định về Phản  Biện Chính Sách". Quyết định phi  dân chủ này cho biết "Nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước, cần gửi ý kiến phản biện đó  cho cơ quan Đảng, nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai...". Với quyết định này,  CSVN nghĩ rằng sẽ bịt miệng được  tất cả dư luận một cách hoàn hảo và      nhẹ nhàng, và họ sẽ đươc thong  dong, an nhiên tự tại phát triển thú tính và thi hành vai trò tay sai cho Trung cộng một cách hoàn hảo hơn. Tuy nhiên, sau khi quyết định ban  hành, CSVN đã gặp một phản ứng  mãnh liệt đến bẽ bàng qua quyết định tự "giải thể" của viện Viện  IDS, một nơi quy tụ những người  mệnh danh "trí thức" mà chính  CSVN đã đặt rất nhiều niềm tin sẽ là công cụ đắc lực cho đảng và nhà nước trong công việc bịp bợm toàn  dân và lừa đảo thế giới. Sự kiện tự "giải thể" cuả Viện IDS tuy nhẹ nhàng như một cơn gió thoảng,  nhưng cũng chính là một trong  những hạt giống dân chủ đang gieo rắc và nẩy mầm trên cánh đồng độc tài, máu lửa CSVN, và điều này  cũng khiến cho CSVN tỏ ra lo ngại,  lúng túng không ít.  
Riêng đối với Tôn giáo, CSVN  rất lo ngại và luôn coi như một thế  lực thù địch qua châm ngôn "Tôn  giáo là ma túy, là liều thuốc phiện  của nhân dân", một lực lượng  không thể đội trời chung, cần phải  tiêu diệt bằng mọi giá. Chính vì thế CSVN đã phải lập ra cái gọi là “Uỷ Ban Tôn Giáo” để mong quốc doanh hoá tất cả các Tôn giáo trở thành  một công cụ đắc lực của đảng trong công việc khống chế xã hội, triệt thoái niềm tin, đưa toàn dân đi vào một hố thẳm tăm tối của tâm thức, trở thành những cái xác vô hồn, để đảng và nhà nước vững tâm thực hiện sự nghiệp tay sai, buôn dân bán nước của tên đại đồ tể Hồ Chí Minh để lại... Tuy  vậy, dù đã trải qua nhiều năm cố gắng, miệt mài với những thủ đoạn dã man, bỉ ổi, nhưng kết quả cũng  không có gì được gọi là khả quan.  Ngược lại, các cao trào đấu tranh  đòi tự do, công lý và công bằng của Tôn giáo lại có chiều hướng dâng cao, nhất là khối Thiên Chúa Giáo tại Việt Nam, và đã bắt đầu từ năm  2008. Sự kiện Toà Khâm Sứ, giáo  xứ Thái Hà bộc phát chính là một khởi điểm cuả ánh sáng trong niềm tin đấu tranh với câu nói bất hủ của Đức Tổng  Giám Mục Ngô Quang Kiệt bày tỏ sự đau khổ, nhục nhã khi ngài xuất  ngoại phải cầm cái "hộ chiếu VC"  do một tập đoàn vong nô, hèn nhược ký, và từ đó đã kéo dài liên tục cho đến năm nay với giáo xứ Tam Tòa và nhiều nơi khác.  Trước cao trào đấu tranh liên tục  của Giáo hội Công giáo Việt Nam,  CSVN cố gắng hoá giải bằng cách  tạo ra những áp lực để Đức Tổng  Giám Mục phải đệ đơn từ chức.  Theo dư luận chung, những áp lức  này CSVN không thể trực tiếp mà là gián tiếp qua Vatican trong chiều  hướng quyền lợi bang giao. Vì thế,  trong lần triều kiến khi Đức Thánh  Cha vào tháng 12-2009 vừa qua,  chủ tịch CSVN Nguyễn Minh Triết đã  xảo quyệt khai thác câu nói của  Ngài, "mong muốn trên một tinh  thần đối thoại, hợp tác và tôn trọng  lẫn nhau để thực hiện vai trò của  mình nhằm phục vụ mọi tầng lớp  người dân..." để một mặt mua  chuộc, dụ dỗ, mặt khác tạo áp lực  buộc Giáo hội Công giáo Viêt Nam sẽ phải giảm thiểu ngọn lửa đấu tranh, từ từ đi vào qũy đạo do đảng đề ra.  Tuy nhiên, một điểm đáng mừng  trong đêm khai mạc đại lễ năm  Thánh tại Hànội, Đức Giám mục  Giuse Nguyễn Chí Linh đã xác định  quan điểm lập trường của Giáo hội  Công giáo trong bài giảng "... Đã  đến lúc người Việt Nam phải thẳng  thắn nhìn nhận rằng chúng ta đã  làm khổ nhau quá nhiều vì bảo thủ chính kiến và thành kiến, vì độc tôn  phe nhóm và quyền lợi". Đây là một thông điệp giá trị Đức Giám mục Giuse Nguyễn Chí Linh nhắn  gửi, nếu muốn có một sự "sống  chung hoà bình" để tạo "một xã hội  công bằng", đương nhiên người  Việt Nam nói chung và người Công  giáo nói riêng phải có một sự đoàn  kết vững mạnh trong đấu tranh, tận  diệt những "bảo thủ chính kiến và thành kiến, vì độc tôn phe nhóm và quyền lợi"... Bởi lẽ CSVN không  phải là một loại còn nhân tính và tâm linh, họ không bao giờ có được  cái "thiện chí" biết lắng nghe...  
 
Song song với những dữ kiện về Công giáo, sự kiện dùng du đãng  đánh đập và đuổi hơn 400 tăng ni  và tăng sinh Làng Mai ra khỏi Tu  viện Bát Nhã cũng đã làm nổi bật  bộ mặt lưu manh dã man của CSVN. Mặc dù ngày 6-10-2009,  Thông Tấn Xã CSVN cũng đưa ra  lời tuyên bố của Võ Ngọc Hiệp,  Phát Ngôn Viên tỉnh Lâm đồng cho  biết "Đây là việc tranh chấp nội bộ giữa Phật tử tu viện Bát Nhã do  Thượng Tọa Thích Đức Nghi làm  viện chủ và số người tu theo pháp  môn Làng Mai. Nhà nước CSVN  không muốn can thiệp vào nội bộ của tôn giáo". Để phụ hoạ cho luận  điệu này, CSVN cho một số tay sai  tuyên truyền trong dư luận rằng  "TT Đức Nghi chỉ là một kẻ bất  chính đội lốt thầy tu, nên sau khi  Thiền sư Nhất Hạnh đã đổ vào trên  một triệu USD xây dựng, nới rộng  Tu viện, TT Đức Nghi động lòng  tham nên đã thuê côn đồ, du đãng  tạo ra sự kiện đánh đuổi những tu sĩ thuộc Pháp môn Làng Mai hầu  chiếm đoạt tài sản về làm của  riêng". Tuy vậy, đa số dư luận cũng  sáng suốt nhận ra đây chỉ là những lý luận o ép, cưỡng từ, đoạt lý,  thiếu hẳn sự khả tín để có thể thuyết phục, nó chẳng khác gì luận  điệu tuyên truyền gán tội của nhà nước CSVN đã trút lên những "nhà đấu tranh dân chủ" tại quốc nội, và khôi hài hơn nữa là thái độ trút bỏ trách nhiệm đối với trật tự, an ninh  trong xã hội của đảng và nhà nước.   
 
Riêng những sinh hoại  đấu tranh  tại hải ngoại trong năm qua, một số  các nỗ lực tranh đấu đòi hỏi tự do  nhân quyền cho Việt Nam, trong đó có sự vận động Thượng viện  Hoa kỳ thông qua dự luật nhân quyền nhưng cũng chưa có kết qủa.  Tại Mỹ, Anh, Pháp, Canada, Úc  Châu, Nhật Bản và hầu hết các  quốc gia có người Việt cư ngụ đều  có những hoạt động chống VC rất  sôi nổi, qua nhiều hình thức như biểu tình, hội thảo, họp báo, thuyết  trình, triển lãm, phát hành sách  báo, CD, DVD... Đặc biệt, người  Việt hải ngoại đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình trước các hang ổ "đại  sứ, lãnh sự" của VC tại các quốc gia, để tố cáo bản chất bán nước và vai trò tay sai của Trung cộng.  
Chỉ riêng tháng 9, đồng hương vùng Hoa Thịnh Đốn đã tề tưự biểu tình trước đại sứ Việt  Cộng, phản đối sự ươn hèn, khiếp  nhược dâng đất dâng biển cho đàn  anh Trung Cộng. Kế đến hai ngàn đồng hương ở Sydney, Úc đã “dàn  chào” Nông Đức Mạnh đến đây ăn  mày viện trợ Úc. Sau đó, năm ngàn  người người biểu dương lực lượng ở Houston, Texas chống CSVN lập tòa Tổng Lãnh Sự ở Houston. Chỉ một tuần sau, ngày 25 tháng 9,  đồng hương vùng Đông Bắc Hoa  Kỳ lại tụ họp về New York,  biểu tình trước Trụ sở Liên Hiệp  Quốc để phản đối Nguyễn Minh  Triết, Chủ Tịch CSVN lai vãng ăn xin.  
 
Riêng tại Úc Châu, khi CSVN thực hiện chính sách “Văn hoá v ận” t ại Sydney với một đoàn văn công 50 người. CĐNVTD/ NSW đã nhanh  chóng và kịp thời tổ chức một cuộc biểu tình rầm rộ vào ngày 15 tháng  3-2009 với sự tham dự đầy đủ các  Hội đoàn, Đoàn thể, các cơ quan  truyền thông Việt, Úc và khoảng  trên dưới 3000 đồng hương. Sau đó,  một cuộc biểu tình khác chống văn  công VC tại Crown Casino  Melbourne cũng được CĐNVTD  Victoria tổ chức vào hai ngày 28 và 30 tháng 8.  Đặc biệt, đầu tháng 4 năm 2009,  để phản đối Liverpool Council và Casuala Powerhouse thường xuyên  tổ chức những cuộc triển lãm không công bằng, thiên tả, tiếp tay cho  những thành phần phản chiến và CSVN, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ chính nghĩa cuộc chiến đấu bảo vệ tự do, dân chủ của Quân, Dân Cán  Chính VNCH trong giai đoạn 1954  -1975, CĐNVTD/ NSW đã tổ chức  một cuộc biểu tình ngay trước  Casuala Powerhouse vào lúc 16 giờ  ngày 4-4-2009, với sự tham dự đầy  đủ các Hội đoàn, Đoàn thể, đại  diện các Tôn giáo, các cơ quan  truyền thông Việt Úc và khoảng  trên 1000 đồng hương. Trong những lần biểu tình này, ngoài vấn đề bày   tỏ quan điểm lập trường của người   tỵ nạn CSVN, cộng đồng cũng nhận  diện được một số khuôn mặt "ăn   cơm quốc gia, thờ ma CS" đang len lỏi quấy phá trong cộng đồng. Đến đầu tháng 9,  CĐNVTD liên bang Úc và các tiểu   bang đã tổ chức cuộc Biểu Tình  Chống Chuyến Viếng Thăm của  Nông Đức Mạnh, Tổng Bí Thư   Đảng VC tại Canberra vào ngày  7-9-2009...  
 
Cũng trong sinh hoạt  đấu tranh   chống VC, Văn phòng Đại diện  Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam   Thống Nhất Úc Châu, đã long trọng   tổ chức buổi phát hành tập "Thơ Tù" của Đại lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ, tại nhiều nơi trên thế giới. Riêng Sydney- Úc Châu, buổi phát hành được tổ chức vào ngày 14/6/2009,  tại Trung tâm Văn hoá & Sinh hoạt Cộng đồng NSW, với sự tham dự   của Đại Lão Hoà Thượng Phó Tăng Thống Thích Hộ Giác kiêm Chủ Tịch Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, chư tôn Giáo Phẩm Văn  Phòng II Viện Hóa Đạo và Phòng  Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, cùng đông đảo quan khách Úc, Việt và khoảng 800 đồng hương. Trong dịp này cộng đồng người Việt tại Úc cũng như khắp nơi trên thế giới có cơ hội xác định được rõ đâu là khối “Phật giáo quốc doanh” của   CSVN hay khuynh tả đang hiện diện tại hải ngoại. Sự kiện này cũng là một yếu tố quan trọng đóng góp trong công cuộc đấu tranh chung cùng toàn dân một cách chính xác và hữu hiệu hơn. Trong buổi lễ phát hành Thơ Tù, một câu hỏi được đặt ra là trong hoàn cảnh hải  ngoại hiện nay, làm sao để biết  được một ngôi chùa thuộc Giáo hội   PGVNTN. Để trả lời câu hỏi,  Pháp Sư Niên Trưởng giải thích, “Muốn biết ngôi chùa đó có thuộc Giáp Hội PGVNTN hay không, quý   vị nên chú ý chùa đó có nêu danh Văn phòng Hai Viện Hoá Đạo hay không. Họ có tôn trọng và thi hành  Hiến chương cuả Giáo Hội  PGVNTN và Giáo chỉ số 9 hay   không”. Đặc biệt, trả lời vấn đề,  “Giáo hội PG/VNTN nghĩ gì về TT   Tuệ Sỹ và Trí Siêu”, chủ toạ thẳng thắn cho biết,  “Chúng tôi không dám xác định hai  vị này là CS vì chưa bao giờ thấy thẻ đảng của họ. Nhưng cái khó  khăn và nguy hiểm trong cuộc đấu tranh hiện nay không phải là những  người mang thẻ đảng CS, mà chính là những người không có thẻ đảng mà lại âm thầm làm việc cho đảng CS, tôn thờ đảng CS. Những người mang thẻ đảng CS, ai cũng biết, nên  ai cũng né tránh. Đáng sợ là những kẻ không mang thẻ đảng, miệng thì   hô hào chống cộng, tay mang Cờ Vàng, nhưng âm thầm làm những  chuyện có lợi cho CS. Vì thế, chúng ta cần vận dụng trí tuệ phân tích và đề cao cảnh giác".  Cũng trong tinh thần cảnh giác  trước "những kẻ không mang thẻ đảng, miệng thì hô hào chống cộng, tay mang Cờ Vàng, nhưng âm thầm  làm những chuyện có lợi cho CS", ngoài một vài tổ chức, phe nhóm, đảng phái tại hải ngoại trong tình trạng “lâp lờ đánh lận” kừa bịp, cộng đồng người Việt tỵ nạn CS hải ngoại và người Việt yêu tự do trong nước, cũng đã nhận diện và vạch mặt những tay sai, nằm vùng c ủa CSVN tại hải ngoại qua cái gọi là "Đại Hội Việt Kiều" trong tháng 11 năm 2009 vừa qua. Kết quả, "Đại Hội" do CSVN tổ chức đã hoàn toàn thất bại trong cái cảnh “Mười voi không được một bát nước xáo” , hay nói đúng hơn “Cốt khỉ lại hoàn cốt khỉ” một cách quá rõ ràng. 
 
Song song với các cuộc  đấu tranh   chống VC, người Việt hải ngoại   cũng tiếp tục xây dựng và phát   triển cộng đồng trên căn bản dân  chủ, đoàn kết và  hội nhập. Trong  tinh thần đó, cuộc bầu cử Ban Chấp  Hành CĐNVTD đã diễn ra tốt đẹp tại nhiều vùng, lãnh thổ, thành phố, tiểu bang, các quốc gia trên thế giới. Trong những tân BCH, thế hệ trẻ đã tiếp nối thế hệ cha anh không  những về khả năng hội nhập, kinh nghiệm lãnh đạo, trình độ kiến thức chuyên môn, mà ngay cả về tinh thần đấu tranh chống VC. Tuy nhiên, tại một vài nơi cũng không tránh khỏi những tên tay sai CSVN lũng đoạn tạo ra những rác rối, nhiêu khê... 
 
Tóm lại, trải qua một năm dài với những khó khăn vất vả, nhưng cuối   cùng ánh sáng của niềm tin vẫn   sáng ngời trong tâm khảm của  những người Viện Nam chân chính còn nghĩ đến đất nước. Đồng thời cũng là những kinh nghiệm qúy báu trên con đường chông gai đấu, tranh giành tự do, dân chủ cho quê hương. Sau cùng, nhân dịp cuối năm, sơ lược một vài dữ kiện tiêu biểu như chia sẻ kinh nghiệm cùng độc giả, và kính chúc độc giả trên   oàn thế giới một mùa xuân mới, an  khang, thịnh vượng, tràn đầy hy vọng cho một tương lai tươi sáng trên quê hương Việt Nam dấu yêu. 
  • Phạm Thanh Phương (Úc Châu)


 - Phạm Thanh Phương (Úc Châu)-
 
Trong những ngày cuối năm âm lịch, người dân Việt Nam khắp nơi đang nhộn nhịp chuẩn bị đón một năm mới với những hy vọng mới đến với cuộc đời, mong rằng tất cả sẽ khá hơn, nhất là trong hoàn cảnh dân tộc Việt Nam đau khổ, đang ngụp lặn trong vũng bùn uất nhục, nhơ nhớp dưới chế độ CSVN. Trong bầu không khí nhộn nhịp ấy, một sự kiện đốn mạt, tang thương đã xẩy ra tại Giáo xứ Đồng Chiêm thuộc Huyện Mỹ Đức- Hà nội vào ngày 6-1-2010 vừa qua. Sự kiện xẩy ra thật bất ngờ, khi nửa đêm nhà nước CSVN điều động hơn 600 bộ đội, công an và chó săn đến bao vây giáo xứ, đập phá Thánh giá, xử dụng roi điện và hơi cay, gây thương tích cho một số giáo dân. Sự kiện thô bạo và mờ ám này đã chứng tỏ bản chất đốn mạt, gian ác của CSVN không thay đổi, dù có thiết lập bang giao với Toà thánh Vatican. Như vậy, khối Công giáo Việt Nam sẽ vẫn tiếp tục bị đàn áp, cướp bóc như những tôn giáo khác, một khi không chịu biến chất trở thành “Quốc doanh”, làm con rối phục vụ cho đảng và nhà nước CSVN.

Cũng trong ngày 6-1-2010 sau khi biến cố xảy ra, một thánh lễ đồng tế tại Đồng Chiêm đã được cử hành long trọng với một số Linh Mục từ Hànội về hiệp thông, cầu nguyện cho đức tin được vững vàng hơn trước những khổ nạn, uất nhục mà giáo dân Đồng Chiêm nói riêng và toàn dân tộc nói chung đang gánh chịu dưới thế lực tàn ác CSVN. Trong thánh lễ đồng tế, vị chủ tế Lm  Phạm minh Triệu đã nhắn gửi rất nhiều điều quan trọng đến nhà nước CSVN, giáo dân Đồng Chiêm và có thể nói rằng những lời nói ấy như một thông điệp, trải lòng đến tất cả người dân Việt Nam chúng ta trên toàn thế giới, những người còn quan tâm, tha thiết đến tiền đồ tổ quốc và dân tộc. 

Mở đấu bài giảng, Lm Triệu cho biết, người không lấy gì làm ngạc nhiên khi nhà nước CSVN có những hành vi thô bạo thất nhân tâm như vậy.Tuy nhiên,   
 “chỉ co điều ngạc nhiên là cái lưỡi của nhà nước này, mới lễ giáng sinh vừa qua vào toà giám mục, các nhà thờ, bắt tay, tăng hoa chúc mừng và rồi chưa đưọc hơn 10 ngày họ đã đến hạ tượng Thánh giá xuống. Đây coi như một sự sỉ nhục vào chính bản thân họ, chẳng khác nào hành động ngửa mặt lên trời nhỏ nước bọt, đó là một điều khó hiểu đối với chúnh ta”...
Về sự kiện này, thực ra cũng chẳng có gì gọi là khó hiểu, dư luận cho rằng, có lẽ vì người đã đặt niềm tin vào chuyến đi Vatican của Nguyễn Minh Triết , CSVN sẽ có một hoà hoãn, nhẹ nhàng hơn với Công giáo. Do đó, sự kiện xẩy ra đã gây cho người một chút ngạc nhiên, và cũng chính sự bấtchợt đó, người đã quên di ngôn của cố TT Nguyễn Văn Thiệu “Đừng tin những gì CS nói nà hãy nhìn kỹ những gì CS làm”, một chân lý bất khả di mà hầu như đại đa số người dân Việt đã thuộc nằm lòng, nhất là sau biến cố đau thương 30-4-1975.

Cũng trong bài giảng, Lm Triệu chia sẻ  
“Đối với người Công giáo, Thánh giá là chìa khóa mở cửa thiên đàng, là lá cờ chiến thắng, là con tầu vượt qua biển đỏ.... Hôm nay, Thánh giá bị đập, chẳng lẽ chúng ta sẽ không còn chià khoá mở cửa thiên đàng, không còn con tầu để vượt qua biển đỏ hay sao...?? ... Cây thánh giá bằng gỗ, bằng sắt, bằng Ciment đã bị hạ xuống, tất nhiên sẽ có hàng ngàn hàng triệu cây Thánh giá khác sẽ được dựng lên trong lòng mỗi cá nhân chúng ta, và chính chúng ta sẽ tạo được chià khóa mở cửa thiên đàng, sẽ tạo được con tầu đưa chúng ta vượt qua biển đỏ. Đó mới là điều chúng ta phải hướng tới...”. 
Nghe những lời giảng này, thiết nghĩ dù không phải là một tín đồ Công giáo, nhưng những người có tấm lòng quan tâm đến công cuộc đấu tranh chung, tất nhiên sẽ hiểu, “cây Thánh giá” trong lòng mỗi người chính là sự kiên trì đấu tranh chống lại sự dữ để vượt qua “biển đỏ” CSVN.  Chỉ có sự nhiệt tâm và kiên trì trong chính nghĩa mới có thể trở thành “chià khóa mở cửa thiên đàng, là con tầu đưa chúng ta vượt qua biển đỏ...”, một cái biển khổ ải, gian truân máu lửa, không chỉ có người Công giáo đang gánh chịu mà là toàn thể dân tộc Việt Nam. Do đó, “điều chúng ta phải hướng tới” là giữ vững niềm tin, kiên trì tiếp tục đấu tranh, quyết tâm đưa đến chiến thắng loài qủy dữ. Đó chính là “chià khoá mở cửa thiên đàng” cho dân tộc. 

Nói về thái độ hèn nhược, tay sai của CSVN, Lm Triệu nhắn nhủ
“Những con cái của Chúa ngày hôm nay, quanh năm lũ lụt chưa đủ khổ hay sao mà còn bị tàn phá tâm hồn nữa... Tại sao không đi ra biên giới phương bắc mà đòi hải đảo Hoàng Sa đang bị Trung cộng chiếm đóng, các ngư dân của chúng ta đang bị đánh đập cướp bóc thì sao không lo cho họ. Tại sao lại đi đàn áp tôn giáo, từ Thái Hà, Toà Khâm Sứ, giáo xứ Loan Lý, Tam Tòa,v,v... Không chỉ có Công giáo , còn chùa Bát Nhã nữa... Và hôm nay đến lượt giáo xứ  Đồng Chiêm chúng ta”.
Với những câu hỏi này của Lm Triệu, có lẽ chỉ có một câu trả lời chung  CS là thế, họ chỉ là một thứ quái thú, có phải con người đâu. Bản chất của CS là chỉ biết hiếp đáp dân, đối với ngoại bang thì khiếp nhược như một cón chó ghẻ. Để nói rõ hơn bản chất CSVN, Lm Hữu chia sẻ tiếp
“ Người Việt Nam chúng ta có câu, “Khôn ngoạn đối đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”.... Trong khi đó thì luồn cúi với ngoại bang mà đi đàn áp chính đồng bào của chúng ta... Tại sao lại đưa những gánh nặng nề đau khổ đề trên những tâm hồn khao khát tự do, hoà bình với cuộc sống quanh năm lụt lội, thiên tai...”. 
Với một giọng xúc cảm, Lm Triệu nói tiếp 
“Chỉ có tà quyền mới làm những điều đó. Nếu là chính quyền thì không bao giờ làm những điều thất đức đó, và không bao giờ làm những điều lén lút trong bóng tối, chỉ có lực lượng của ma qủy, trộm cắp, phường cú vọ mới làm những cái chuyền mờ ám trong đêm tối mà thôi...  Như vậy những sự thăm viếng nồng thắm của đêm Giáng sinh có phải chăng là những bàn tay sắt bọc nhung?....”
Trước sự kiện  Đồng Chiêm, một số người cho rằng rồi cũng sẽ chẳng đi đến đâu, bùng lên rồi lại xẹp xuống như những sự kiện Toà Khâm Sứ, giáo xứ Thái Hà và một số nơi khác đã từng xẩy ra. Do đó, họ cũng không buồn quan tâm. Tuy nhiên, nếu nhìn xa hơn để thấy được con đường dài trước mặt phải đi và phải có hy vọng. Một câu hỏi được đặt ra ở đây, giả sử không có sự kiện đấu tranh của Toà Kâm Sứ , Thái Hà với thái độ cương quyết trong tinh thần “Uy vũ bất năng khuất” của Đức TGM Ngô Quang Kiệt thì thử hỏi khối Công giáo ngày nay có dám lên tiếng mạnh mẽ như Lm Nguyễn Trung Thành, Lm Nguyễn Văn Khải và giờ đây đến Lm Nguyễn Văn Hữu tại Đồng Chiêm với những lời tâm huyết và sự thật như vậy hay không?... Hơn nữa, có lẽ khó có ai có thể phủ nhận những sự kiện ấy cũng sẽ là những yếu tố dùng rèn luyện chiếc “chià khóa mở cửa thiên đàng”của dân tộc trong tương lai... 

Trong tình hình hiện tại, sự kiện Đồng Chiêm có lẽ rồi cũng phải “chìm xuồng” như dự đoán. Tuy nhiên, chắc chắn một điều là dư âm của tinh thần “Uy vũ bất năng khuất” ấy sẽ được kết tinh, đọng lại mãi mãi trong lòng người Công giáo nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.... Bất cứ công cuộc đấu tranh nào cũng vậy, phải có những khởi điểm khó khăn, với những con đường chông gai máu lửa và đôi khi phải hy sinh ngay cả mạng sống. Do đó, nếu đòi hỏi thấy được ngay kết quả là một điều không tưởng, hay nói đúng hơn là thiếu viễn kiến trong đấu tranh. Hơn nữa, họ đã quên rằng dân Việt nam đang phải đấu tranh với một tập đoàn dã man tàn bạo như CSVN. 

Người Việt Nam có  câu “Góp gió thành bão”, những ngọn gió uất nhục, đau khổ đang thổi về từ bốn phương, tám hướng. Từ các cá nhân, tập thể đang nổ lực trong đấu tranh trong niềm tin của dân tộc, bao nhiêu người đã bị cầm tù, hành hạ như Lm Nguyễn Văn Lý, bao nhiêu người đa hy sinh, vinh viễn ra đi trong bóng tối... Chẳng lẽ tất cả đều vô ích hay sao.... Đối với một cái nhìn hời hợt, có thể chỉ thấy đây là những cơn gió nhẹ, tưởng chừng như lướt qua, rồi tan biến nơi cuối trời quên lãng. Nhưng ai có thể biết được những cơn gío ấy đang đi tìm điểm đồng quy, sẽ đồng quy ở đâu và vào lúc nào để trở thành cơn bão lớn cuốn trôi tất cả những đau thương, uất nhục của tổ quốc và dân tộc, cuốn trôi bè lũ tàn bạo, hèn nhược CSVN đưa vào hố sâu của lịch sử, xây dựng lại một nước Việt Nam thanh bình, hoan lạc...

Nhìn vào cục diện  đấu tranh hiện nay,  có lẽ không một ai có  thể phủ nhận công cuộc đấu tranh chung của toàn dân suốt hơn 30 năm qua đã đi từng bước rất chậm, chậm đến nỗi nhiều khi tưởng chừng như đang “dậm chân tại chỗ” . Sự trì trệ chậm chạp này đưa đến từ nhiều nguyên nhân, trong đó sự tuyên truyền và kìm kẹp bằng bạo lực đã làm cho sức đề kháng của dân tộc bị liệt hay bị chai đá trong sợ hãi. Như vậy, phải chăng những con người can đảm, chấp nhận thương đau để nói lên những điều trung thực trong hiện tại, hay những cuộc phản kháng và những lời nói của Đức TGM Ngô Quang Kiệt hay bài giảng của Dòng Chúa Cứu Thế mà CSVN đã lên án; Bài giảng của Giám mục Giuse Nguyễn Chí Linh trong đêm khai mạc lễ Năm Thánh tại Hà nội và đến nay với bài giảng của Lm Chánh xứ Đồng Chiêm Phạm minh Triệu đều là những liều thuốc hồi sinh, dùng phục hồi sức đề kháng của dân tộc trong tinh thần truyền thống “Uy vũ bất năng khuất” của lịch sử Việt Nam hay không...? Có lẽ trong chúng ta ai cũng có câu trả lời chính xác.Tóm lại, trong công cuộc  đấu tranh với một thế lực hèn hạ, tàn bạo, dã  man CSVN, ngoài công việc cảnh giác với những đám tay sai ”Ăn cơm Quốc Gia thờ ma CS” đang len lỏi tuyên truyền quấy phá. Điều quan trọng nhất là làm sao phục hồi được sức mạnh của dân tộc mà một số sự kiện chứng tỏ đang tiến hành, Như vậy, bài giảng của Lm Phạm minh Triệu chính là một thực thể qúy hiếm mà hầu như đa số những ngưới đang sống trong an bình, no ấm chưa phát huy được. Sau cùng, mong rằng hình ảnh và bài giảng của Lm Phạm minh Triệu sẽ như một tia sáng chiếu rọi đến khắp nơi trên thế giới, để tất cả mọi người dân Việt có thể bắt tay nhau kiến tạo được “Chìa khóa mở cửa thiên đàng” cho dân tộc hoặc tạo dựng được chiếc tầu đưa dân Việt Nam vượt qua biển đỏ CSVN.



Phạm Thanh Phương (Úc Châu) 
Tài liệu Đính Kèm:






Bài Giảng Lm Phạm minh Triệu 



-Phạm thanh Phương-

Vừa bắt đầu vào năm mới, một sự kiện đã xẩy ra có thể gọi là đặc biệt mà một số dư luận cho đã cho rằng đây dịp CSVN thể hiện sự “Lễ độ” tuyệt hảo trong tinh thần “16 chữ vàng và 4 tốt” sẽ được hai nước Việt -Trung cử hành trọng thể để đánh dấu 60 năm “Hữu nghị” trong năm nay như Nguyễn Tấn Dũng v à Ôn Gia Bảo đã tuyên bố tại Bắc Ngao trong năm qua. Hơn nữa, dư luận cũng cho rằng, sự kiện bộ đội biên phòng bắt một số trong 40 chiếc tàu đánh cá Trung cộng, lập biên bản trước khi cho về cũng là một hành động rất “anh dũng” nhằm xác định chủ quyền Việt Nam trên biển Đông và cũng là một bài học “Thế nào là lễ độ” hầu có thể nhắc nhở Trung cộng nên lưu tâm nhiều hơn trong cái tình “Hữu nghị môi hở răng lạnh”, để có những hành xử thích hợp, hầu cùng làm nổi bật ý nghĩa của “16 chữ vàng và 4 tốt” mà CSVN đã và đang kính cẩn tụng niệm.

Duyệt lại tình “Hữu nghị” Việt- Trung trong thời gian một năm qua, ngoài vấn đề Trung cộng chiếm đóng Hoàng Sa và khoanh vùng biển Đông gần như chiếm lãnh toàn bộ lãnh hải Việt Nam. Đồng thời thường xuyên bắt giữ, đòi tiền chuộc, đánh đập, cướp bóc tài sản của ngư dân Việt Nam một cách rất dã man, côn đồ. Tuy nhiên, không thấy đảng và nhà nước CSVN lên tiếng phản bác hay bày tỏ bất cứ một thái độ nào thể hiện sự bất bình, mặc dù toàn dân trong cũng như ngoài nước, hầu như ai cũng thấy đó là những sự kiện nhục quốc thể và là một mối đe dọa đến sự tồn vong của tổ quốc. Chẳng những thế, cái quyền được nhục cuả người dân cũng bị đảng và nhà nước tước đoạt một cách trắng trợn, chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Vì vậy, bất cứ ai lên tiếng bày tỏ sự uất ức, nhục nhã về sự những sự kiện này, đều được đảng và nhà nước quy vào tội “phá hoại nền an ninh quốc gia”, xử lý nghiêm ngặt bằng những bản án nặng nề, khủng bố hay cầm tù. Để lý giải cho những hiện tượng nêu trên, một số dư luận từ đảng và nhà nước đưa ra cho rằng, vì muốn thực hiện đúng nghĩa tình “Hữu nghị” một cách “nghiêm túc”, nên đảng và nhà nước CSVN không muốn làm mất lòng “anh em, láng giềng” nên “Gặp thời thế, thế thới phải thế” mà thôi, “Thân bất do kỷ” mà, biết sao bây giờ. Hơn nữa, trong tinh thần hữu nghị “Núi liền núi, sông liền sông” tất cả đều là của chung, không có vấn đề gì quan trọng đề phải ồn ào. “Hôm nay, anh em mình cần thì xử họ dụng, mai một tính sau... có mất cũng mất vào tay anh em mình thôi, có phải người ngoài đâu mà tính toán, lo sợ”.

Đồng thuận với những lý giải trên của đảng và nhà nước CSVN, một số dư luận cho rằng, hành xử của đảng và nhà nước CSVN không phải là thái độ hèn mạt của những tên tay sai như đại đa số nhận định. Ngược lại, sự im lặng trước những đau khổ của ngư dân khi bị hành hạ cướp bóc, trước nỗi nhục quốc thể ấy chỉ là hành xử “cực kỳ văn hoá” của “đỉnh cao trí tuệ” mà thế gian này hiếm ai có thể hiểu được. Ngoài ra, qua sự kiện bộ đội biên phòng CSVN chỉ bắt giữ, lập biên bản và tha số tầu ngư dân Trung cộng vi phạm lãnh hải Việt Nam chỉ là thể hiện sự khôn khéo đầy nhân tính, đề cao ý nghĩa của nhân bản “Lấy chí nhân thay cường bạo” hầu thức ngộ lòng người. Đồng thời cũng thể hiện được cái tinh túy trong tinh thần “16 chữ vàng và 4 tốt” một cách trân trọng triệt để như một điểm son, dùng tô điểm thêm cho ngày kỷ niệm 60 năm “Tình hữu nghị môi hở, răng lạnh” Việt- Trung thắm thiết hơn, đẹp đẽ hơn. Ngoài ra, hành xử của bộ đội biên phòng cuả CSVN được xem là một thái độ rất đúng đắn, bởi lẽ “Kim vàng ai nỡ uốn câu. Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời” huống chi trong cái tình “hữu nghị” mà lại dùng những biện pháp mạnh, tất sẽ không hay, mất đi cái nghĩa “quân tử” của Khổng học, đã du nhập vào nước ta cả mấy ngàn năm qua.

Tuy nhiên đại đa số lại cho rằng, dù có nói gì chăng nữa, và nếu có thể gom tất cả chữ nghĩa của thế gian, có lẽ cũng không thể nào biệm minh, che lấp được cái bản chất vong nô của CSVN. Nếu nói rằng CSVN đang thể hiện mẫu người “quân tử” của Khổng học thì chẳng lẽ mả Khổng Tử chỉ vượng ở Việt Nam, còn cái gốc rễ bên Tầu lại bị mục nát, thối rữa từ rồi hay sao?. Về điều này, nếu chịu khó bình tâm suy nghĩ một tí, tất sẽ thấy những hành xử trong cái tình “Hữu nghị, sông liền sống, núi liền núi” nêu trên của cả hai bên CSVN và Trung cộng, thì chắc chắn phải nói mả Khổng Tử đã vượng cả hai nơi Hoa - Việt mới đúng. Bởi lẽ, hành xử thô bạo, trịch thượng của Trung cộng và sự nhũn nhặn, kính cẩn đến hèn mạt cuả CSVN chẳng qua chỉ là hai bên đang thực hiện cái đạo Tam Cương qua câu “Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu... Quân xử thần tử, thân bất tử bất trung” mà thôi.... Đi ngược dòng lịch sử CSVN từ hơn nửa thế kỷ qua cho đến bây giờ, có lẽ khó có ai có thể phủ nhận sự liên hên giữa CSVN đối với Trung cộng tựa như cái đạo Tam Cương trong Khổng học, trong đó Trung cộng tượng trưng cho “Quân- Sư- Phụ”, CSVN tượng trưng vai trò củ “Thần- Tử”. Nếu nói một cách bình dân dễ hiểu hơn thì đây là sự liên hệ chủ tớ, hay chính xác hơn nữa là sự liên hệ ông chủ Trung cộng và con “chó ngoan” CSVN, không hơn, không kém.

Cũng trong chiều hướng này, đại đa số nhận định, nếu xử dụng câu “Kim vàng ai nỡ uốn câu. Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời” trong trường hợp này có vẻ hơi cọc cạch một chút, nói thế chẳng hoá ra CSVN là loại ngu độn, còn Trung cộng mới là kẻ khôn, là một loại “kim vàng”, cũng có lẽ vì vậy ngư dân của họ mới hãnh diện, hiên ngang xâm phạm lãnh hải Việt Nam một cách rất ư là tự nhiên, bởi họ biết được đám đầy tớ CSVN sẽ không bao giờ dám dùng “kim vàng” của ông chủ để “uốn câu” một cách bừa bãi, ngược lại lúc nào cũng phải kính trọng nâng niu. Hơn nữa, ngư dân Trung cộng cũng biết chắc rằng CSVN sẽ không dám có thái độ gì, dù họ có ngang ngược xâm phạm đến đâu chăng nữa , thì vẫn an toàn thong dong, cùng lắm chỉ dám “lập biên bản” cho vui rồi tiễn chân ra về an toàn, không thể xẩy ra những cảnh tượng đốn mạt như Trung cộng đã đối xử với ngư dân Việt Nam trong năm qua. Chẳng những thế, họ còn biết được dù hoàn cảnh có ra sao chăng nữa thì chắc chắn CSVN vẫn phải “hồ hởi” tung hô “6 chữ vàng và 4 tốt” như một cái máy, như đã từng thực hiện từ hơn nửa thế kỷ qua... Ngược lại, dưới mắt Trung cộng thì bè lũ CSVN chỉ là một loại tay sai ngu xuẩn, nên ngư dân Việt Nam mới phải gánh chịu những nhục nhã, nghiệt ngã đắng cay.

Song song với những nhận định trên, đa số cũng cho rằng, nếu lý luận thái độ và hành xử của CSVN qua sự kiện 40 ngư thuyền Trung cộng xâm nhập lãnh hải vừa qua là mang ẩn ý dùng sự “lễ độ” thức ngộ lòng người thì lại càng khôi hài và ấu trĩ, mà phải nói CSVN đang thực hiện hai chữ “lễ độ” mà ông chủ Trung cộng đã dạy dỗ đầy tớ rất cẩn thận mới đúng. Một điều trái khoáy khác, khi cho rằng CSVN đang thực hiện lời cụ Nguyễn Trãi để “Lấy chí nhân thay cường bạo” lại cả một sự mâu thuẫn không thuyết phục được ai, kể cả những trẻ em thuộc lớp tuổi mần non, đang bập bẹ trong ngưỡng cửa học đường.... Một câu hỏi được đạt ra ở đây, “Chí nhân” ở đâu ? Trong khi cả thế giới ai còn lạ gì cái thú tính của CSVN đối với người dân Việt trong mọi lãnh vực. Một loại máu lạnh chỉ biết cướp bóc, đàn áp, giết chóc thì có lẽ một tí nhân tính cũng khó có thể tồn đọng trong họ, vậy tìm đâu ra “Chí nhân” bây giờ. Do đó, nếu áp dụng hai chữ “Chí nhân” ở đây thì e rằng lại chứng tỏ thêm một điều ngu xuẩn, vô tình hay cố ý lại vướng vào cái tội đang phỉ báng cụ Nguyễn Trãi và nền văn hóa truyền thống của lịch sử Việt Nam với hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước. Vì vậy đại đa số nhận định, nếu muốn chính xác có lẽ trong ngôn ngữ Việt Nam không còn chữ nào hơn và đầy đủ ý nghĩa hơn ngoài bốn chữ “Chí ngu, chí hèn” đối với hành xử vong nô cuả CSVN trong cái gọi là tình “Hữu nghị Việt -Trung môi hở răng lạnh” mà CSVN đã và đang kính cẩn thi hành từ 60 năm qua.

Tóm lại, trong năm mới tất nhiên sẽ có nhiều sự liện mới và có thể CSVN sẽ có những thủ đoạn mới mẻ tinh vi hơn, hầu mong ru ngủ được nhiều người và biến cộng đồng người Việt tỵ nạn CS vô tình trở thành thần dân của chế độ, triệt tiêu ngọn lửa đấu tranh trong toàn dân, hầu mong có thể phát triển sự nghiệp tay sai, buôn dân, bán nước của tên đồ tể Hồ Chí Minh để lại một cách hoàn hảo hơn. Do đó, cũng trong năm mới, mong rằng người Việt tỵ nạn chúng ta cảnh giác hơn nữa, hầu có thể đập tan tất cả những âm mưu lũng đoạn, tuyên truyền bịp bợm như “CSVN đã biết nghĩ đấn tiền đồ của tổ quốc và dân tộc, đang mua vũ khí, củng cố quốc phòng, để chống lại Trung cộng, đòi lại Hoàng Sa va Trường Sa,v,v... Như vậy, vì tình yêu tổ quốc, vì tiền đồ dân tộc, cộng đồng người Việt tỵ nạn nên đem tình yêu đánh đổ hận thù, cùng hợp lực chống ngoại xâm và canh tân đất nước..”,v,v... Ngược lại, nên nhìn vào thực tế để thấy được Việt Nam không bao giờ có thể dùng vũ lực để chống lại Trung cộng, mà chỉ có thể dùng sức mạnh của dân tộc như đã chứng minh trên suốt dòng lịch sử của tiền nhân. Chỉ khi nào đất nước thực sự tự do, dân chủ, người dân Việt Nam có đầy đủ cái quyền làm người. Lúc đó mới mong có một sự kết hợp đúng nghĩa để có được một sức mạnh, bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước. Một khi những điều kiên này chưa thoả, có nói gì chăng nữa cũng chỉ là một sự lừa bịp.

* Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

-Phạm thanh Phương-


Trong những ngày gần đây, sự kiện CSVN thông báo mua một số vũ khí và tầu ngầm của Nga đã trở thành một đề tài khá sôi động trong dư luận người Việt Nam, và một số nhà bình luận trê thế giới. Trong sự kiện này, một số người cho rằng đây là một điểm đáng mừng, chứng tỏ CSVN đã ý thức tầm mức quan trọng sự tồn vong của tổ quốc để có thể lột xác, từ biệt cái bản chất vong nô, trở thành một con người đúng nghĩa. Vì thế, việc CSVN củng cố quân sự được đánh giá như là một thông điệp ngầm, xác định chủ quyền đất nước, đặc biệt là lãnh vực biển Đông đang bị Trung cộng xâm lăng và khống chế, trong đó quan trọng là vấn đề Hoàng sa và Trường sa. Hơn nữa, đây cũng là một thách thức, một trở ngại lớn với Trung cộng. Ngược lại, đại đa số dân Việt và một số bình luận khác lại cho rằng, việc mua thêm vũ khí của CSVN cũng chẳng có gì gọi là ngạc nhiên với hai lý do. Thứ nhất, hệ thống quân sự của CSVN quá lạc hậu so với một số nước trong vùng, nên việc bổ xung, phô trương cho coi được một chút, cũng cần phải có. Thứ hai vì áp lực chính trị, CSVN bắt buộc phải mua một số vũ khí thặng dư từ các nước đàn anh thải ra, dù biết hoàn cảnh sẽ trở nên phức tạp, khó khăn hơn.

Để đi sâu vào vấn đề, có lẽ ai cũng hiểu Trung cộng đã và đang tăng cường quân sự từ nhiều năm qua, và tiềm năng quân sự của Trung cộng có thể nói là một trong những siêu cường trên thế giới. Nếu đem so sánh lực lượng quân sự của CSVN với Trung cộng thì chẳng khác nào đem một cậu bé tí hon so sánh một người khổng lồ. Vì thế, nếu nói rằng CSVN dùng vũ trang để chống lại Trung cộng và giành lại chủ quyền là một điều không tưởng. Điều này tờ nhật báo “South China Morning Post” xuất bản tại Hong Kong cũng đã nhận định rõ:

“Tầm vóc của Trung quốc khiến toàn bộ Á châu, kể cả Nhật và Ấn Độ đều không thể so sánh.... dù là 20 hay 30 năm nữa...”.
Cũng trong sự kiện này, ông Xu Guangyu, một viên tướng hồi hưu cuả Trung cộng nhận định:
 “Tôi sẽ không ngạc nhiên, nếu các nước khác cũng bắt đầu nâng cấp hạm đội của mình. Đa phần hải quân các quốc gia trong khu vực đều làm thế và có thể hiểu được điều này...”.
Do đó, nhận định sự tăng cường quân sự cuả CSVN là một thông điệp xác định chủ quyền, đối đầu với Trung cộng chỉ là một điều võ đoán, hoàn toàn thiếu khả năng thuyết phục. Thực sự mà nói, nếu CSVN biết nghĩ đến chủ quyền của tổ quốc, nhận biết được cái đau của dân, cái nhục của nước thì có lẽ tình hình đã đổi khác rất nhiều từ lâu, không phải, cúi đầu, ngậm miệng làm tay sai cho Trung cộng như hôm nay.

Nếu đi ngược dòng lịch sử từ cổ chí kim, từ đông sang tây, tất nhiên ai cũng thấy việc xác định chủ quyền và giữ gìn bờ cõi của một quốc gia, không đơn thuần chỉ là sức mạnh quân sự, mà yếu tố then chốt vẫn là sức mạnh tinh thần của dân tộc họ. Nếu chỉ dựa vào sức mạnh quân sự, thì thử hỏi các nước bé, yếu về quân sự trên trái đất này đều bị diệt vong hết hay sao, và như thế đất nước Việt Nam cũng đã bị xóa sổ trên nền trời quốc tế từ cả ngàn năm trước, và bây giờ cũng chẳng còn gì để trăn trở, ưu tư. Có lẽ không cần phải nghiên cứu đâu xa, chỉ cần đi ngược dòng lịch sử của dân Việt, với hàng ngàn năm đánh nhau với Tầu, cả trăm năm đánh nhau với Tây, có khi nào lực lượng Việt Nam có thể đứng ngang hàng với địch không, hay luôn luôn nằm trong thế yếu. Tuy vậy, nhưng tại sao đất nước và dân tộc vẫn tồn tại cho đến hôm nay, điều này có lẽ ai cũng có câu trả lời chính xác,chính là nhờ vào sức mạnh của dân tộc, được kết tinh từ ý thức quê hương... Một chính quyền hay một triều đại biết yêu dân, yêu nước, chắc chắn sẽ có sự hoà đồng, kết hợp được lòng người để tạo thành sức mạnh. Từ đó, khi cần phải hy sinh, tất cả cũng sẽ sẵn sàng một lòng như hình ảnh một “Hội Nghị Diên Hồng” khi xưa trong đời nhà Trần. Ngược lại, một triều đại gặp phải Hôn Quân, chỉ biết hà hiếp bóc lột dân, củng cố quyền lợi cá nhân hay một phe nhóm, thì làm sao có thể kết hợp được lòng người để ch chống ngoại xâm, và như thế cái họa diệt vong rất khó có thể tránh được khi bị cường địch xâm lăng.

Trở lại hoàn cảnh đất nước Việt Nam trong hiện tại, dưới một chế độ vong nô, tàn bạo CSVN, người dân chỉ được coi như một thứ nô lệ hay một công cụ dùng phục vụ đảng. Đảng khống chế bóc lột, đè nén trăm chiều và đưa đến cả một xã hội đói rách, băng hoại đến cùng cực. Như vậy, thử hỏi làm sao có thể vực dậy tiềm lực của dân tộc dùng làm sức mạnh bảo vệ tổ quốc. Hơn nữa, với bản chất vong nô vốn dĩ, CSVN không thể có được một ý thức quê hương mà chỉ biết cúi đầu làm tay sai như một con chó ngoan dưới chân ông chủ, thì dù có trang bị gì đi nữa cũng chỉ là tay sai, dùng bảo vệ cho quyền lợi của ông chủ mà thôi. Vậy thử hỏi chủ quyền ở đâu? Bằng chứng cho thấy, khi Trung cộng xâm lăng và chiếm đóng biển Đông, người dân uất ức, bày tỏ lòng căm phẫn, CSVN thẳng tay đàn áp, bắt bớ, và đến bây giờ bất cứ ai nhắc đến sự kiện xâm lăng của Trung cộng, đều bị quy vào tội “Phá hoại nền an ninh quốc gia” để được trù dập, ngồi tù một cách danh chính ngôn thuận.

Ngoài ra, mới đây tại điễn đàn Á châu ở Bắc Ngao, để đánh dấu 60 năm tình thầy trò, nghĩa chủ tớ, Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN và Ôn Gia Bảo, Thủ tướng Trung cộng đã đồng tuyên bố "nhất trí chọn năm 2010 làm Năm hữu nghị Việt - Trung". Một cái tình “Hữu nghị” quái đản chưa từng thấy trên dòng lịch sử của thể giới, kể cả từ cổ chí kim, nhưng lại xuất hiện trong chế độ CSVN từ 60 năm qua. CSVN lúc nào kính cẩn tụng cái tình “hữu nghị” quái đản này như một cái máy qua châm ngôn “16 chữ vàng” và tinh thần “bốn tốt”. Nhưng rất tiếc những điều này chỉ áp dụng cho bè lũ vong nô CSVN như một loại kinh nhật tụng, để ghi nhớ bổn phận phải thi hành đúng mức "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai""láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt". Còn lại đối với Trung cộng chỉ có trách nhiệm giám sát xem CSVN có ngoan ngoãn “chấp hành nghiêm chỉnh” hay không mà thôi. Bởi vậy, cũng không ai ngạc nhiên với sự lộng hành của Trung cộng đối với Việt Nam từ nhiều năm qua, họ thích lấy đất biển thì cứ lấy một cách tự nhiên, thích bắt bớ cướp bóc, hành hạ ngư dân Việt Nam thì cũng cứ làm, không cần phải e ngại điều gì. Bằng chứng cho thấy trong cơn bão số 9 vừa qua, khi 17 chiếc tầu đánh cá cùng 200 ngư dân Việt Nam xin tấp vào khu vực Hoàng sa để tránh bão và đã bị đuổi quân Trung cộng bắn đuổi, sau khi CSVN năn nỉ được cho vào và sau khi hết bão ra đi, 17 chiếc tầu đánh cá này cũng không thoát khỏi cái cảnh bị đánh đập, cướp bóc dã man từ phiá Trung cộng. Tuy thế, phía CSVN cũng chỉ biết câm miệng, coi như không có việc gì xẩy ra. Cùng trong thời điểm ấy, 2 chiếc tầu mang 13 ngư dân Trung cộng bị mất tích tại vùng Bạch Long Vĩ thì Bộ Ngoại Giao Trung cộng đã đánh điện “yêu cầu giúp đỡ” và CSVN tức tốc đưa 4 chiến hạm lên đường thi hành nhiệm vụ. Như vậy, chủ quyền ở đâu, dân tộc và tổ quốc là cái gì đối với CSVN, có lẽ ai cũng rõ.

Tóm lại, sự kiện CSVN tăng cường quân sự thực sự không phải là để xác định chủ quyền quốc gia hay đối đầu với Trung cộng như một số người nghĩ, mà đây cũng chỉ là một chiêu bài chính trị, một mặt bịp dân, một mặt giải quyết mớ hàng thặng dư cho quan thầy mà thôi. Còn lại bản chất vong nô, vẫn là vong nô, không thay đổi. Tuy nhiên, CSVN cũng sẽ phải mua thêm một vài thứ khác của phe tư bản để che đậy sự thật của bản chất... Một điều quan trọng cần ghi nhớ là muốn bảo vệ đất nuớc và giữ vững chủ quyền nước, điều kiện tiên quyết chính là sức mạnh của dân tộc, muốn vực dậy đưọc sức mạnh của dân tộc, chắc chắn CSVN phải ra đi.

Một đất nước mà guồng máy lãnh đạo toàn một lũ vong nô hèn nhược “Ngu nhà Dại chợ” như CSVN thì dù có trang bị vũ khí tối tân đến đâu chăng nữa cũng vô ích, nguy cơ diệt vong lúc nào cũng đe doạ bên cạnh và sẽ thành sự thật trên mọi hình thức.

* Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

Theo tinh thần Hội Nghị những quốc gia tài trợ cho Việt Nam tại Hànội trong hai ngày 3-4 /12/2009, đã cam kết tài trợ cho CSVN một số ngân khoản đáng kể khoảng 8 tỷ USD, trong đó 6 tỷ là cho vay và số con lại gần 2 tỷ là viện trợ. Tuy đã cam kết tài trợ, nhưng đa số đại diện các quốc gia hiện diện cũng tỏ ra rất quan ngại về một số vấn nạn quan trọng tại Việt Nam như tham nhũng, tự do thông tin và nhân quyền. Từ sự quan ngại này, một số dư luận nghĩ rằng ánh sáng của tự do và nhân quyền đang bắt đầu ló dạng trên quê hương Việt Nam, và đất nước chắc chắn sẽ tươi sáng hơn dù chế độ thối nát, tàn bạo dã man CSVN vẫn tồn tại. Tuy nhiên đại đa số lại cho rằng, tất cả những nhận định của các nước tài trợ cho VN vừa qua chỉ mang tính hời hợt theo kiểu “cỡi ngựa xem hoa”, nó không thể xem như là một áp lực hay một chất liệu để có thể đốt lên một ánh sáng thực sự cho đất nước, dù chỉ là một tia sáng le lói cuối đường hầm.

Nói về sự tài trợ năm nay, theo tin nhiều nguồn tinh chính thức cho biết, Ngân hàng Thế giới cam kết tài trợ 2,5 tỷ, Ngân hàng Phát triển Á châu 1,5 tỷ. Riêng nước Nhật đã cam kết tài trợ 1. 64 tỷ và Âu Châu 1.08 tỷ. Trên lý thuyết, mục đích của số tiền tài trợ năm nay là dùng vào việc phục hồi và phát triển nề kinh tế Việt Nam vốn đã từng suy thoái nhiều năm với chính sách bè phái, bóc lột và tham nhũng của chế độ CSVN. Điều đáng chú ý ở đây là tất cả các nước tài trợ đều biết tham nhũng tại Việt Nam dưới chế độ CS được coi như là quốc sách và mức độ tăng trưởng của nó càng ngày càng cao. Nhưng họ vẫn cam kết tài trợ và cũng tỏ ra rất “tha thiết”, mong mỏi có một nước Việt Nam tiến bộ với đầy đủ tự do, dân chủ và nhân quyền như quốc gia của họ. Tuy nhiên, những nhận định và sự “tha thiết” ấy hầu như chỉ là những lời nói xuông, họ nói lên những hiện tượng hiển nhiên mà ai cũng biết, nhưng lại không thấy điều kiện nào được chính thức đặt ra, hầu có thể dùng làm áp lực, buộc CSVN phải thực hiện phần nào để có thể thực hiện những “tha thiết” của họ. Như vậy, phải chăng đây chỉ là một loại xáo ngữ, dùng vấn đề tự do, dân chủ của người dân Việt Nam như một loại trang trí trong bang giao, hay tô điểm thêm cho cái bình phong, dùng che đậy những quyền lợi tiềm ẩn bên trong. Vỉ vậy, chẳng có gì có thể gọi là ánh sáng niềm tin hay hy vọng cho đất nước.

Nhận định về việc chống tham nhũng tại VN, trong một đoạn phỏng vấn của RFA, ông Rolf Bergman, Đại sứ Thụy Điển nhận định: 
" Trong cuộc chiến chống tham nhũng, để đạt được thành công cần có sự nỗ lực của tất cả mọi người dân. Chỉ có những luật lệ và quy định tốt là chưa đủ, muốn thành công cần phải có sự kết hợp tham gia của Đảng, Chính phủ, xã hội dân sự, các cơ quan báo chí và từng người dân trong xã hội.".
 Với nhận định này, không ai phủ nhận đây là vấn đề then chốt rất tốt đẹp, nhưng chỉ mang tính lý thuyết, còn lại thực tế không bao giờ có thể thực hiện. Một guồng máy mà tất cả sinh hoạt xã hội đều nằm trong tay đảng, đảng kiểm soát mọi mặt kể cả hệ thống tư duy của từng người dân, thì thử hỏi làm sao có thể tìm được “sự nỗ lực của tất cả mọi người dân” hay “sự kết hợp tham gia ... của xã hội dân sự, các cơ quan báo chí và từng người dân trong xã hội." như ông Rolf Bergman nhận định. Có chăng chỉ nói để mà nói cho vui như những câu chuyện huyền thoại trong dân gian.

Nói đến hệ thống tham nhũng của CSVN, hầu như ai cũng biết nó không khác nào một loại bệnh ung thư đã đến thời gian hết thuốc chữa. Nếu nhìn kỹ vào bối cảnh của đất nước, có lẽ không ai có thể phủ nhận những kẻ đang hô hào chống tham nhũng lại là những thủ phạm chính hay nói đúng hơn là những “đại gia” đã tạo ra và nuôi dưỡng mạng lưới tham nhũng. Hơn nữa, chính họ là những kẻ đang nắm quyền sinh sát, thao túng đất nước từ những vai trò Chủ tịch nước, Tổng bí thư , Thủ tướng và những nhân vật then chốt trong bộ chính trị trung ương đảng. Từ đó, tham nhũng tại Việt Nam hiện tại chẳng khác nào một mạng lưới được đan bằng một chất liệu rất bền chặt từ trung ương đến địa phương. Tất cả những chương trình hay biện pháp chống tham nhũng được đưa ra, chẳng qua chỉ là những trái khói mù bịp bợm. Vì vậy, những nhận định của các nhà tài trợ cho VN cũng chỉ có thể tạo một lớp sơn, vẽ vời sự hợp lý trong bang giao hầu che phủ những quyền lợi của họ, nó không có gì để có thể cho rằng là những dấu hiệu ánh sáng tự do, nhân quyền đang ló dạng trên đất nước Việt Nam.

Xoay quanh sự kiện, các nước tài trợ cho Việt Nam hầu như cũng tỏ ra quan tâm nhiều đến lãnh vực thông tin và họ cho rằng một hệ thống thông tin tự do sẽ đưa đất nước đến sự ổn định và phát triển. Trong lãnh vực này, ông Michael Michalak, Đại sứ Hoa kỳ tại Việt Nam nhận định “tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội đòi hỏi môi trường lành mạnh, minh bạch cho tất cả các bên...” Trong khi đó ông Rolf Bergman, Đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam cũng cho biết có yêu cầu chính phủ Việt Nam bãi bỏ mọi hạn chế đối với lãnh vực Internet. Đồng thời ông Rolf Bergman cũng cho biết  
“Chúng tôi nhấn mạnh rằng báo chí cũng như các trang mạng xã hội giữ vai trò hết sức trọng yếu trong việc nối kết thông tin, để dẫn đến thành quả, chứ không tác hại gì đến các kế hoạch của chính phủ. Chúng tôi thật sự quan ngại khi nhận được tin chính phủ kiểm soát trang xã hội Facebook vì làm như thế là cản trở sự phát triển chứ không thể gặt hái kết quả tốt được.... Các nước có mặt trong hội nghị như Hoa Kỳ, Canada, Na Uy, New Zealand cũng như các nước châu Âu khác đều có chung những quan ngại như của chúng tôi...”.

Tuy nhiên, đã trải qua nhiều năm, biết bao nhiêu nhận định, đề nghị, khuyến cáo của các nước có sự tài trợ và bang giao với CSVN, nhưng khi nhìn lại xã hội và đất nước Việt Nam hiện nay thì hầu như không ai thấy được một dấu hiệu nào chứng tỏ khá hơn mà ngược lại có chiều hướng tệ hơn rất nhiều, và trong những ngày tháng gần đây, mức độ đàn áp, trù dập đã gia tăng đến độ khối truyền thông nói riêng và toàn dân tại quốc nội nói chung, hầu như càng ngày càng tỏ ra “ngoan ngoãn”, luôn luôn “nhất quán” với đường lối của đảng đưa ra, kể cả những vấn đề quan trọng liên quan đến sự tồn vong của đất nước như sự kiện Boxite tại Tây Nguyên hay chủ quyền về lãnh thổ, lãnh hải đã và đang bị mất dần trong tay Tầu cộng.

Với những diễn biến nêu trên đại đa số nhận định, nếu các nước tài trợ thực sự quan tâm đến tự do, dân chủ và nhân quyền của Việt Nam, tất nhiên họ không thể chỉ đưa ra những nhận định hay khuyến cáo xuông. Đối với một tập đoàn lưu manh, thủ đoạn như CSVN mà chỉ nói xuông rồi đổ tiền vào một cách vô tội vạ thì chỉ tạo cơ hội cho tập đoàn CSVN có cơ hội, nhảy muá, sơn phết những tấm bình phong tuyệt đẹp để bên trong tiếp tục, chia chác, bóc lột xương máu của người dân và bán rẻ giang sơn với câu “Nối giáo cho giặc” mà người Việt Nam thường dùng. Tất cả những khẩu hiệu, vẽ vời hình thức của CSVN thực sự chẳng che mắt được ai, ngoài sự đồng lõa tung hứng cho quyền lợi. Để cuối cùng “mười voi vẫn không được một bát nước xáo”, chẳng có gì thay đổi để có thể thấy được những điều mà toàn dân VN đang mơ ước. Điều này cũng đã được ông Rolf Bergman xác nhận:
“Chúng tôi hy vọng sẽ thấy nhiều hơn nữa những tiến bộ trong lĩnh vực này nhưng phải thật lòng mà nói chúng tôi chưa thấy chính phủ có phản hồi tích cực trong vấn đề này và vì vậy chúng tôi cảm thấy hơi thất vọng...”. 

Để làm sáng tỏ hơn về bản chất CSVN, đi ngược dòng lịch sử từ năm 1945, sau khi CSVN cướp được chính quyền đến nay, đã có biết bao nhiêu khẩu hiệu cải tổ, kêu gọi diệt trừ tham nhũng, tôn trọng tự do thông tin, tự do ngôn luận của người dân... Nhưng kết quả ra sao chắc ai cũng biết. Tất cả hình ảnh những tù nhân lương tâm hay chính trị còn nằm nơi nhà lao trong hiện tại cũng đủ chứng minh rõ ràng cái “thiện chí” cải tổ của hệ thống CSVN từ hơn nửa thế kỷ qua. Ngoài ra, mới đây cái Nghị Định 97/2008/NĐ-CP- do Nguyễn Tấn Dũng ban hành cũng là một bằng chứng xác định cái “thiện chí” ấy một cách rất hùng hồn và minh bạch. Một nghị định phản dân chủ, đi ngược lại Công ước Quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1982 mà CSVN đã tham gia ký tên. Đồng thời cái nghị định 97 này cũng đang phỉ nhổ vào cái đống giấy lộn được gọi là Hiến pháp nhà nước CSVN với điều 69. Như vậy, cái ánh sáng tự do nhân quyền mà một số người đã nhận định đang nằm ở đâu??? Và những nhận định của các nước tài trợ sẽ có ảnh hưởng gì đến tự do, dân chủ và nhân quyền cho đất nước Việt Nam hay không, một khi không có những điều kiện đi kèm và người dân Việt Nam vẫn chưa thể tỉnh táo dứng dậy đòi lại.

• Phạm Thanh Phương (Úc Châu)


Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

Trong mấy tuần lễ gần đây, dư luận bàn tán khá xôn xao về hiện tượng Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nhà nước CSVN yết kiến Đức Giáo Hoàng Benedicto 16 tại Vatican từ ngày 09 đến ngày 12-12-2009 vừà qua.Với sự kiện này, một số người cho rằng Triết sang Vatican để “cầu hoà”, xin lỗi về những xung đột với Giáo hội Công giáo Việt Nam về vấn để tài sản, đất đai như sự việc Tòa Khâm Sứ ở Hà Nội; Thánh địa La Vang; Giáo Hoàng Học Viện ở Đà Lạt; Dòng Thánh Giuse, Nha Trang; Giáo xứ Thái Hà; Nhà thờ Tam Tòa ở Quảng Bình,Tu viện thánh Phaolô ở Vĩnh Long ,v,v... Ngược lại, đại đa số lại nhìn đây chỉ là dấu hiệu của những thỏa thuận, tương nhượng từ một số quyền lợi tương quan song phương giữa hai quốc gia, mặc dù không có bất cứ một sự tiết lộ nào từ cả hai bên.

Nhận định về sự kiện, phía CSVN ông Nguyễn Hồng Dương, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo tại Hà Nội cho biết  
“Tôi nghĩ mối quan hệ đó đang trong lộ trình. Sau khi Thủ tướng Việt Nam đến Vatican thì nay chuyến đi của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đến gặp Giáo hoàng thì hai phía đang trong lộ trình thiết lập quan hệ đầy đủ giữa Vatican và Việt Nam”.
Trong khi đó, Gs Nguyễn Đăng Chúc thuộc Phân khoa Thần học, Đại học Strasbourg, Pháp hầu như cũng đồng quan điểm với ông Dương trong nhận định:
“Chắn chắn có thiện chí từ phía hai bên, dù cả hai bên không ai tiết lộ, đến bây giờ cũng chưa có những gì cụ thể cả.” 
Từ những nhận định trên, một số người tỏ ra rất phẩn khởi cho rằng, dù sao Vatican cũng là một Trung tâm quyền lực có ảnh hưởng rất nhiều trên toàn thế giới, và dù ít hay nhiều CSVN cũng không nằm ngoài quỹ đạo. Như vậy, họ cho rằng hai chữ “thiện chí” cuả Gs Chúc ở đây mang ý nghĩa CSVN sẽ phải nhân nhượng bày tỏ thiện chí bằng cách trả lại một số tài sản của Giáo hội Công giáo Việt Nam đã bị CSVN cướp đi từ nhiều năm qua, ít nhất là những vụ việc gần nhất. Tuy nhiên, cũng nhiều nguồn dư luận lại cho rằng thế giới ngày nay đã khác xưa, ảnh hưởng của giáo quyền cũng không còn tồn tại, do đó ảnh hưởng của Vatican chỉ có thể đứng trên giá trị tinh thần tại một số quốc gia có nhiều tín đồ Công giáo, lãnh đạo của họ biết tôn trọng đạo đức và lẽ phải. Ngược lại CSVN là một loại phi nhân tính, cộng thêm chủ nghĩa tam vô. Do đó, CSVN sẽ không bao giờ bị chi phối bởi ảnh hưởng giá trị đạo đức và tâm linh. Có chăng là những giá trị kinh tế và chính trị khi có lợi cho họ. Hơn nữa, theo chủ trương của Vatican cũng chỉ muốn cố gắng thực hiện một sự "hợp tác lành mạnh" tìm một sự "sống chung hoà bình giữa Giáo hội và cộng đồng Chính trị" CSVN, hầu có thể tạo nên một "xã hội công bằng". Ngoài ra Vatican cũng không chủ trương đối kháng với CSVN và cũng "không chủ trương tìm cách thay thế những người có trách nhiệm lãnh đạo đất nước và chỉ mong muốn trên một tinh thần đối thoại, hợp tác và tôn trọng lẫn nhau để thực hiện vai trò của mình nhằm phục vụ mọi tầng lớp người dân..." như lời Đức Giáo Hoàng Benedicto 16 đã tuyên bố trong lần gặp phái đoàn Công giáo tại Vatican cách đây không lâu. Do đó, hai chữ “thiện chí” cuả Gs Chúc ở đây chắc chắn phải được áp dụng cho cả hai bên trong tinh thần “Dĩ hoà vi qúy”, để có thể tiến đến một hệ thống bang giao trong hài hoà. Như vậy, trong cái “Dĩ Hoà Vi Qúy" ấy, chắc chắn hai bên sẽ phải thông qua một số khúc mắc, không thể làm khó nhau và chuyện trả lại tài sản cho Giáo hội Công giáo Việt Nam cũng rất khó có thể xẩy ra.

Nói về việc CSVN trả lại tài sản cho giáo hội Công giáo Việt Nam, thiết nghĩ nên đi trở ngược dòng lịch sử từ khi CSVN xuất hiện trên đất nước đến nay, có bao giờ CSVN có “thiện chí” ăn năn, hối lỗi, trả lại cho khổ chủ những gì họ đã cướp hay không, ngoại trừ lấy lại từ sức mạnh của vũ lực, nếu có. Do đó, muốn lấy lại được những gì đã mất, người Công giáo Việt Nam không thể tin tưởng vào những thoả hiệp hay tương nhượng từ Vatican trong lãnh vực bang giao với CSVN. Ngược lại phải đoàn kết tập trung sức mạnh đấu tranh, lúc đó mới có thể đạt được kết qủa như mong muốn. Tuy nhiên, dù sao chăng nữa dư luận cũng hy vọng Vatican không vì quyền lợi riêng của Toà Thánh mà quên đi sự đau khổ của toàn dân Viện Nam nói chung và Giáo hội Công giáo tại Việt Nam nói riêng như lời Lm Trần Công Nghị đã nhận định:
“Giáo Hội lo phần linh hồn, Giáo Hội lo cho sự tốt đẹp của một giáo hội khác, không thể Giáo Hội Vatican đi trên đầu trên cổ Giáo Hội Việt Nam đang khi người Việt Nam ở khắp nơi đều mong muốn một giáo hội có sự yên bình"...

Nói về sự yên bình trong một cộng đồng, có lẽ không ai có thể phủ nhận điều kiện tiên quyết là hoà giải những tị hiềm, hận thù, và hoà hợp trong tình yêu nhân bản. Tuy nhiên, hoà giải như thế nào mới là một điều đáng quan tâm, hoà giải không có nghĩa là phải khuất phục để trở thành một thứ nô lệ hay tay sai như lời Lm Nguyễn Văn Khải đã xác định:
"Chúng tôi được mời gọi để hòa giải chứ không phải để khuất phục trước các thế lực, sự dữ, trước các bất công, trước việc cá lớn nuốt cá bé, hình thức lấy thịt đè người. Cái đó tùy thuộc vào thái độ của chính quyền đối với chúng tôi. Vấn đề là chính quyền có tôn trọng công lý và sự thật hay không. Chính quyền có tôn trọng tự do tôn giáo hay không. Chính quyền có tôn trọng quyền lợi của cộng đồng linh mục tu sĩ và giáo dân Thái hà hay không. Tùy thuộc vào thái độ ứng xử của chính quyền mà chúng tôi phải biết đáp lại thế nào cho đúng, đúng với tư cách là một công dân và tín hữu Công giáo.".
 Cùng một quan điển với Lm Khải, trong đêm khái mạc lễ Năm Thánh, Giám mục Giuse Nguyễn Chí Linh đã xác định trong bài giảng "... Đã đến lúc người Việt Nam phải thẳng thắn nhìn nhận rằng chúng ta đã làm khổ nhau quá nhiều vì bảo thủ chính kiến và thành kiến, vì độc tôn phe nhóm và quyền lợi”. Như vậy, thiết nghĩ muốn có một sự “sống chung hoà bình” để tạo “một xã hội công bằng”, đương nhiên người Việt Nam nói chung và người Công giáo nói riêng phải có một sự đoàn kết vững mạnh trong đấu tranh, tận diệt những “bảo thủ chính kiến và thành kiến, vì độc tôn phe nhóm và quyền lợi”... Không thể chỉ dựa “trên một tinh thần đối thoại, hợp tác và tôn trọng lẫn nhau” như Đức Giáo Hoàng Benedicto 16 đã mong ước. Bởi lẽ CSVN không phải là một loại còn nhân tính và tâm linh, họ không bao giờ có được cái “thiện chí” biết lắng nghe, để có thể thấu hiểu được sự hơn thiệt của Tổ quốc và dân tộc. Ngược lại, họ là những kẻ mang dòng máu lạnh, chỉ biết dùng thủ đoạn gây tang thương, máu lửa, cướp bóc, lọc lừa. Vì vậy, tin vào “thiện chí” của CSVN coi như tự sát, để muôn đời sẽ luẩn quẩn mãi trong cái màn đêm đau khổ tận cùng của nhân loại.

Tóm lại, việc Nguyễn Tấn Dũng hay Nguyễn Minh Triết có sang yết kiến, bàn bạc, tương nhượng hay thoả hiệp gì với Vatican chăng nữa, thì bổn phận của người dân Việt nam nói chung và khối Công giáo Việt Nam nói riêng vẫn phải giữ vững niềm tin, đoàn kết gây sức mạnh, tiếp tục công cuộc đấu tranh đòi công lý, sự thật. Đòi lại tự do, dân chủ và quyền tự quyết của dân tộc. Riêng hàng giáo phẩm "Giáo Hội cũng luôn luôn kêu gọi rằng Giám mục là một vị mục tử luôn luôn phải nói tiếng nói của công lý, của chân chính, của sự thật, mà ví dụ phải chết chăng nữa để nói sự thật...". Vì thế nếu các Giám mục, Linh muc Việt Nam triệt để thi hành chức năng của mình, can đảm đặt quyền lợi tổ quốc, dân tộc lên trên quyền lợi của Tôn giáo và giáo quyền như Đức Giáo Hoàng Jean Pau lI đã thực hiện đối với tổ quốc và dân tộc Balan của ngài. Nếu được như thế, thiết nghĩ Giáo hội Công giáo Việt Nam sẽ là một yếu tố quan trọng dùng vực dậy sức mạnh truyền thống của dân tộc, để cùng đứng lên tận diệt những “phe nhóm độc tôn”, tận diệt những độc ác, những thủ đoạn gian manh lừa bịp của CSVN, đòi lại tự do, dân chủ cho, nhân quyền đất nước. Đồng thời, với sức mạnh ấy cũng có thể tẩy rửa được cả những uất nhục của non sông do đảng CSVN gây ra. Chỉ khi nào dân tộc có được tự do và quyền tự quyết, lúc đó mới có thể tìm được một đòi sống an bình thực sự trong tương kính giữa tình người với nhau. Ngược lại, một khi chế độ dã man tàn bạo CSVN còn ngự trị trên quê hương, dân tộc Việt Nam sẽ tiếp tục còn đau khổ, Tổ quốc sẽ còn nhiều nỗi đắng cay, uất nhục, và Giáo hội Công giáo Việt Nam cũng không thể nằm ngoài qũy đạo.

• Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

Kể từ ngày 09-11-2009, khi Âu Châu bắt đầu kỷ niệm 20 năm “Bức Tường Ô Nhục” tại Đức sụp đổ. Từ đó đã kéo theo các chế độ CS khác tại Đông Âu hàng loạt rủ nhau cáo chung. Nói đến sự cáo chung của các chế độ CS tại Đông Âu có lẽ ai cũng hiểu, cái xác thối XHCN đã được những dân tộc Đông Âu nói chung và dân tộc Đức nói riêng dùng ánh sáng văn minh của nhân bản để đào sâu, chôn chặt trong tận cùng của lịch sử nhân loại. Vì vậy, trong dịp kỷ niệm này, dư luận trên toàn thế giới đã bày tỏ một sự quan tâm đặc biệt, và những người dân Việt Nam chân chính lại càng tỏ ra quan tâm hơn. Thiết nghĩ, những ngưuời Việt Nam chân chính, khi nhìn lại sự kiện thống nhất của nước Đức cách đây 20 năm, có lẽ không mấy ai thoát khỏi sự chạnh lòng, ngậm ngùi, xót xa cho dân tộc mình, ngoại trừ bọn tội đồ CSVN và những kẻ đã vì một lý do nào đó nhân tính của họ đã bị khánh kiệt

Nói về sự  thống nhất của nước Đức cách đây 20 năm, không ai có thể phủ nhận là một cuộc giải phóng dân tộc đúng nghĩa, đưa đến một niềm an vui, ấm no trong hoà bình. Toàn  thể người dân Đức hai miền Đông - Tây đã cùng nhau nô nức reo hò theo từng nhát búa mang nặng tình nhân loại, nghĩa chủng tộc, hoà chung với những dòng nước mắt hạnh phúc của bao nhiêu năm trời cách biệt, chờ đợi trong đau xót, buồn tủi chỉ vì một chủ thuyết huyền hoặc không tưởng CS. 

Nói đến sự sụp đổ cuả ”Bức Tường Ô Nhục”, nhiều người cho rằng, yếu tố then chốt quan trọng hàng đầu là do sự ảnh hưởng của cố Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Regan và cố Đức Giáo Hoàng John Paul II. Nhưng một số nhận định khác cho rằng, mặc dù không ai phủ nhận của cố Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Regan và cố Đức Giáo Hoàng John Paul II là hai nhân vật có sự ảnh hưởng sâu đậm trong việc thống nhất nước Đức. Tuy nhiên, nếu người dân Đức không có những nỗ lực từ nhiều năm và những nhà lãnh đạo Đức đã bị thối rữa lương tri như CSVN, thì chắc chắn sự thống nhất này không thể xẩy ra để giải phóng con người trở về đúng nghĩa của nhân bản... 

Tưởng nhớ cuộc thống nhất của nước Đức, đại đa số người Việt Nam có lẽ không mấy ai không chạnh lòng nghĩ đến sự thống nhất của Việt Nam vào năm 1975. Tuy hình thức cũng là một sự thống nhất, nhưng nước Đức đã thống nhất bằng tình tự dân tộc và nhân bản, giải phóng con người từ bóng tối lạc hậu, máu lửa, hận thù ra ánh sáng tự do và văn minh của hạnh phúc. Ngược lại, cuộc thống nhất của Việt Nam năm 1975 đã được xây dựng bằng máu lửa, hận thù, khủng bố, chết chóc và tù tội. Cũng từ sự thống nhất quái đản này đã đưa đến uất nhục, sầu hận cho cả một dân tộc. Và cũng kể từ giây phút thống nhất ấy, biết bao nhiêu linh hồn đã phải tức tưởi ra đi nơi các trại tập trung nơi rừng thiêng nước độc, hay trong rừng sâu, trên đại dương của  những đoạn đường di tản, vượt biên, vượt biển để tự giải thoát cho chính bản thân và gia đình... 

Sau 20 năm thống nhất, toàn thể người dân Đức ăn mừng tưởng nhớ cái ngày bắt đầu của ánh sáng và niềm tin, tình yêu và hy vọng, họ được cả thế giới ngưỡng mộ, nô nức chia sẻ. Ngược lại, mỗi lần người dân Việt Nam nhắc tới ngày thống nhất 30 -4-1975, đều ngậm ngùi xót xa cho kiếp người với uất nhục của tổ quốc, và mơ ước một ngày “Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời” của quê hương...
 

Cũng trong sự kiện này, đại đa số người dân Việt Nam nhận định, “Bức Tường Ô Nhục” của nước Đức được xây bằng những viên đá rất kiên cố, nhưng đã được san bằng cách đây 20 năm trong tình yêu nhân bản. Ngược lại cách đây 34 năm, Việt Nam thống nhất để dựng nên một “Bức Tường Ô Nhục” ngay trong lòng dân tộc mà chỉ có người dân Việt Nam có thể nhìn thấy rõ nhất nó là biểu tượng cho cái ô nhục trên tất cả các loại ô nhục trên thế gian. “Bức tường Ô Nhục” của Việt Nam không đuợc xây bằng những viên đá kiên cố như nước Đức, nhưng nó đã được xây bằng sự ngu xuẩn, vong tình, bội nghĩa của những con người đã khánh kiệt nhân tâm và thối rữa tâm hồn như CSVN. Chính vì thế mà đất nước Việt Nam ngày nay không khác nào một đống rác bầy hầy của thế kỷ. Sự thống nhất cuả CSVN đã không mang lại hạnh phúc, ấm no cho người dân mà ngược lại chỉ đem đến những đau khổ, uất nhục. Chính sự thống nhất này là cơ hội để CSVN đưa toàn thể người dân Việt Nam đi vào một nhà tù vĩ đại không cửa sổ, tạo ra một tổ quốc lở loang, có nguy cơ mất dần trong tay Tầu cộng. 

Để chia sẽ sự thống nhất hạnh phúc của dân Đức, từ giáo xứ Thái Hà, Lm mục Nguyễn Ngọc Nam Phong bày tỏ:
"Chúng tôi chia xẻ với người dân Đông Âu, nói chung là người dân Đức đã phá đổ được một bức tường ngăn cách mà do cái chủ nghĩa vô thần đó nó tạo nên."
Và để nói lên sự mơ uớc chung của cả một dân tộc đang đắm chìm trong đau khổ, nhục nhã của thế kỷ hôm nay, Lm Phong chia sẻ: 
"Là người dân trong một đất nước đang ở trong một chế độ kiềm kẹp thì không chỉ chúng tôi mà tất cả mọi người đều mong ước được giải thoát một cách nào đó để con người được hưởng trọn vẹn cái quyền mà Thượng Đế đã ban tặng cho mỗi con người, như là quyền sống, quyền tự do đi lại, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do diễn tả những cảm nghĩ, những suy nghĩ của bản thân mình. Tiếc rằng là ở Việt Nam thì cho đến bây giờ những quyền lợi đó nó cũng chưa có."... 
Tuy nhiên, mơ ước vẫn chỉ là mơ ước, khát khao, nếu những người mơ ước không có những nỗ lực tạo nên nó. 

Sự hạnh phúc của người dân Đông Âu nói chung và dân Đức nói riêng có được hôm nay, không phải là ngẫu nhiên từ trời cao rơi xuống hay từ một thế lực nào ban phát cho họ, mà họ đã lấy về từ chính trái tim, khối óc, máu và nước mắt của họ. Từ đó, họ đã kết hợp được lòng người thành sức mạnh và cũng là chất liệu thức ngộ được những con người lãnh đạo đã một thời sắt máu, lầm lũi trong u tối. 

Để chứng minh cho điều này, đi ngược dòng tất nhiên sẽ thấy được sau Đệ nhị Thế chiến 1945, biên giới Đông-Tây nước Đức được phân định cũng giống như  bối cảnh của Việt Nam sau năm 1954. Họ cũng có những đắng cay cực nhục, họ cũng có những làn sóng tỵ nạn CS như Việt nam chúng ta, nhưng họ khác chúng ta là sự ý thức đấu tranh một cách can đảm và mạnh dạn hơn. Điển hình một số phong trào tiêu biểu tại các quốc gia Đông Âu như  Ba Lan, Hungary và Tiệp Khắc, nhưng những cuộc nổi dậy này đều bị đàn áp đẫm máu như cuộc nổi dậy của thợ thuyền tại cảng Poznan, Ba Lan năm 1956, cuộc cách mạng mùa thu Budapest 1956, và cuộc cách mạng mùa xuân thành Praha 1968..v..v Tất cả đã là những chất liệu đưa đến hạnh phúc của hôm nay.

Tóm lại, Trông người mà nghĩ đến ta, người dân Việt Nam chúng ta cũng không thể ngồi mơ ước xuông. Ngược lại, muốn có được một ngày hạnh phúc như Đông Âu nói chung và nước Đức nói riêng, người dân Việt Nam cần phải vứt bỏ những vị kỷ thấp hèn của hạ ngã, quan tâm trong mọi lãnh vực của đất nước, phát huy triệt để tinh thần “Uy vũ bất năng khuất” truyền thống của lịch sử, hầu có thể tạo được một sức mạnh đoàn kết. Lúc đó mới mong thực hiện được những khao khát của ước mơ. Riêng khối người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại cũng nên ”ép mình”, xóa bỏ những tị hiềm vô bổ để đi về một niềm tin chung, một ý chí chung. Đồng thời cảnh giác vạch mặt, tẩy chay những thần phần “thối rữa lương tri và khánh kiệt tâm hồn” đang chui luồn phá hoại trong các cơ chế hội đoàn, đoàn thể và các tổ chức Cộng Đồng. Những chiêu bài nối kết giao lưu với CSVN để cùng canh tân đất nước, hầu cảm hoá bọn tội đồ CSVN chỉ là những chiếc bánh vẽ lừa bịp, bởi lẽ Việt Nam không phải là Đông Âu. Được như vậy thì chắc chăn ngày hạnh phúc đất nước sẽ không còn xa.
·         Phạm Thanh Phương