"...trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng..."

Theo tin trong nước, vì xét thấy vụ án mua dâm, cưỡng dâm hàng chục nữ sinh tại tỉnh Hà Giang có nhiều sai sót, thiếu yếu tố pháp lý kết tội. Do đó, nhà nước CSVN quyết định hủy bỏ toàn bộ những quyết định cũ để “tái điều tra” lại từ đầu. Sự kiện này đã tạo cho người dân tại Hà Giang nói riêng và dư luận đại đa số người dân nói chung đã tỏ rất ngạc nhiên, sửng sốt đến bàng hoàng. Một câu hỏi chung được đưa ra, tại sao vụ án chấn động nhân tâm như vậy mà mãi cho đến hôm nay nhà nước mới quan tâm để nhập cuộc. Sự nhập cuộc này mang ý nghĩa gì ? Đảng và nhà nước CSVN muốn làm sáng tỏ công lý, hay tìm cách bao che, bảo vệ những tinh túy rất “hồng” của đảng. Câu hỏi này cũng không phải là khó có câu trả lời chính xác nếu ai đã trải qua một ít kinh nghiệm về bản chất đảng CSVN.
 
Theo dõi sự kiện đại đa số nhận định, nếu vụ án chỉ đơn thuần mua dâm hay cưỡng dâm nữ sinh dưới tuổi vị thành niên của tên ma cô đội lốt mô phạm Sầm Đức Xương, thì có lẽ với bản án 126 tháng tù cũng tạm yên để nhận chìm dư luận. Nhưng rất tiếc sự kiện không đơn thuần như vậy, mà có sự liên can và đồng loã của nhiều quan chức nòng cốt trong đảng như Nguyễn Trường Tô, chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang và còn rất nhiều quan chức khác không được nêu danh. Vì vậy, đảng và nhà nước mới phải quan tâm tái xét, mà dư luận cho rằng một “quả bom thối” được cho nổ lại. 
 
Liên quan đến vụ án, Ls Trần Đình Triển, người đứng ra biện hộ miễn phí cho những nữ sinh nạn nhân nhận định “Tôi cho rằng không phải chỉ có 15 cháu này và mấy ông ấy đâu, mà còn rất nhiều nữa. Theo như tôi biết là còn nữa.”
 
Ngoài ra, vụ án không chỉ có một minh Sầm Đức Xương, mà còn liên quan rất nhiều môi giới, trong đó có cả Bí thư và Phó bí thư đoàn cuả trường. Vì thế theo sự phân tích cuả Ls Triển qua từng trường hợp và ông nhận định “Tình tiết này thì không phải là quan hệ tình dục với vị thành niên nữa mà ở đây là một vụ cưỡng dâm và có tổ chức”.
 
Cũng trong vụ án, một điều khôi hài và tréo ngoe mà dư luận đang xôn xao khi nhìn thấy  kẻ cưỡng dâm Nguyễn Trường Tô thì vẫn ngồi tại chức, còn lại những nữ sinh nạn nhân thì lại bị giam cầm, trong khi gia đình các nạn nhân và Ls Triển cố gắng vận động xin tại ngoại nhưng vẫn không hiệu qủa, dù rằng các em đang bị bệnh cần ra ngoài điều trị. Cũng theo Ls Triển cho biết “là tình hình bệnh tật của cháu cũng rất là phức tạp, bệnh xá thì không đủ khả năng để khám bệnh mà không đưa cháu đi ra bệnh viện bên ngoài để chữa chạy cho cháu”“Kết quả đến bây giờ là các cháu vẫn chưa được tạm tha”.
 
Trước sự giam cầm những nạn nhân một cách phi lý và vô nhân đạo này, cũng đã làm cho người dân nhận xét kỹ hơn và hiểu rõ hơn hệ thống luật pháp và bản chất đảng và nhà nước CSVN như thế nào. Thự sự mà nói, nếu vụ án chỉ đơn thuần như tên Lương Quốc Dũng Phó chủ nhiệm Ủy ban Thể dục thể thao hiếp dâm em bé 13 tuổi, hay nhân vật tiêu biểu đạt thành tích "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" Hồ Xuân Mãn, Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên với những thành tích dâm ô đạo lộ thì có lẽ đảng và nhà nước đã “xử lý” xong từ lâu rồi, dù chỉ là một bản án lấy lệ, rồi từ từ nhận chìm theo thời gian, đâu cần phải tái xét chi cho mệt. Tuy nhiên, lần này sự kiện biểu hiện cả một đường dây có tổ chức, đầu nậu và ma cô lại nằm trong giới “Mô phạm XHCN”, đồng thời quá nhiều quan chức liên quan, vì thế đảng và nhà nước cực chẳng đã phải xuất đầu, lộ diện. Hơn nữa, cái lối hành xử dùng bạo lực, cường quyền một cách quá đáng đã làm sự việc bắt buộc phải phơi bày ra ánh sáng.  
 
Nhận định về sự kiện nhà đảng và nhà nước “quan tâm” nhúng tay chỉ vì không còn che giấu được nữa, dư luận cho rằng mặc dù các bậc phụ huynh đã phát giác và tố giác và cũng đã được tập đoàn quyền lực địa phương răn đe, hăm dọa, mua chuộc nạn nhân qua nhiều gình thức, nhưng sau đó lại kết án, cầm tù những nữ sinh nạn nhân một cách phi lý và phi nhân. Vì thế trong cái thế “tức nước vỡ bờ”, các em đành phải tố giác danh sách những quan chức liên hệ vụ việc tại toà và câu chuyện đã bị nổ lớn, để đảng và nhà nước bất đắc dĩ phải “bận tâm”. Nói riêng về sự việc hăm doạ nạn nhân và gia đình, Ls Triển xác nhận “Những áp lực, thậm chí đe dọa, thậm chí mua chuộc, thậm chí dùng những lời lẽ không hay, hay là phân tích ngược lại đối với gia đình hai cháu bé, cũng như việc gặp gỡ các nhân chứng, đặc biệt là nhiều sự kiện chứng minh sự việc đó và kể cả bản thân tôi...”
 
Xoay quanh sự kiện, dù chưa biết kết quả của sự tái điều tra ra sao, nhưng trong dư luận hầu như không ai dám tin rằng những tên qủy dâm dục của đảng sẽ bị truy tố, kết tội một cách xứng đáng, công bằng để xiển dương công lý, mà có thể đảng và nhà nước sẽ đưa ra cả hàng ngàn lý do rất “chính dáng” ngụy biện có thành không, không thành có rồi nhận chìm sự việc một cách êm thắm như đã từng xẩy ra. 
 
Từ vụ án được nhà nước quan tâm tái xét, đại đa số đã phải nhìn lại để nhận rõ nét toàn cảnh một bức tranh ung thối bầy hầy của xã hội dưới chế độ CSVN. Từ những liên thủ tham nhũng bóc lột không chừa một lãnh vực nào. Ngoài việc cướp nhà, cướp đất, ngay cả hai lãnh vực quan trọng là y tế và giáo dục cũng không nằm ngoài qũy đạo. Tất cả được liên kết như một mạng lưới bền chặt từ trung ương đến địa phương. Thậm chí đến lãnh thổ, biên cương cũng bị mất mát, khống chế cũng chỉ vì bản chất hèn nhược của đảng và nhà nước CSVN. 
 
Riêng trong lãnh vực giáo dục, nơi đào tạo nhân tài dùng xây dựng đất nước cũng đã không còn đủ sức lưu lại một chút niềm tin nào cho người dân. Ngoài chất lượng giảng dạy qúa thấp kém, bằng cấp được mua bán trao đổi và sự điều hành từ giai cấp chỉ  có  “hồng” mà không có “chuyên” như Giáo sư Phạm Toàn nhận định, đến nay thành phần ma cô lại xuất hiện trong giới mô phạm thì đất nước sẽ đi về đâu? Chẳng cần phân tích dài dòng có lẽ ai cũng biết, muốn phát triển đất nước cần phải có nhân tài, nhưng với hệ thống giáo dục XHCN thì tìm đâu ra nhân tài bây giờ? 
 
Cũng theo nhận định cuả Ls Triển “Tôi cho rằng không phải chỉ có 15 cháu này và mấy ông ấy đâu, mà còn rất nhiều nữa. Theo như tôi biết là còn nữa”. Từ đó dư luận có thể hiểu được dưới XHCN trường hợp ma cô Sầm Đức Sương không hẳn là một trường hợp mang tính cá biệt, nó không giới hạn riêng tại tỉnh Hà Giang mà rất có thể đã và đang xẩy ra nhiều nơi trên khắp nẻo đường đất nước mà chưa ai phát giác, hay đã phát giác nhưng cũng đã bị nhận chìm từ những thủ đơạn hăm dọa, thủ tiêu hay thương lượng. 
 
Tóm lại, nhìn vào bối cảnh đất nước dưới chế độ CSVN, đại đa số nhận định không thể thay đổi được điều gì khá hơn nếu CSVN còn tiếp tục điều hành đất nước. Với những “Đỉnh cao trí tuệ” CSVN, càng sửa lại càng thất tệ hại hơn. Do đó dư luận cho rằng, có thể đảng và nhà nước đang có một bộ “Dâm dục và đào tạo” ngầm đâu đó chưa biết chừng. Chẳng thế mà ngay Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết còn trơ trẽn quảng cáo gái đẹp khi kêu gọi đầu tư tại Mỹ cách đây mấy năm. Như vậy, muốn có một đất nước trong sạch để phát triển, chỉ còn một cách làm sao đảng CSVN phải triệt tiêu, bằng không Việt Nam sẽ chỉ là một đống rắc của thể kỷ và nguy cơ mất nước cũng không còn xa.
Phạm Thanh Phương (SGT-Úc Châu

Trong những năm gần đây CSVN thường tự hào cho rằng, Việt Nam dưới sự lãnh đạo của đảng và nhà nước, với một nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, đất nước mỗi ngày một phát triển theo đà tăng trưởng của thế giới, đang tiến đến một vị thế “dân giầu, nước mạnh”, dù không thể bằng các quốc gia Âu Mỹ nhưng ít nhất cũng phải đứng ngang hàng với các quốc gia trong vùng. Tuy nhiên, nhìn vào thực tế có lẽ ai cũng thấy sự phát triển của Việt Nam hiện tại chỉ là hình thức mặt nổi qua những khẩu hiệu và những con số trên trang giấy, còn lại đời sống xã hội mỗi ngày một suy thoái, nghèo nàn, lạc hậu bên cạnh những xa hoa, lãng phí của một thiểu số thuộc giai cấp thống trị hay đặc quyền, đặc lợi trong guồng máy cầm quyền.
 
Nói về một đất nước phát triển, thông thường người ta nhìn vào đời sống căn bản của người dân, sự ổn định của xã hội, không thể chỉ nhìn vào số lượng nhà lầu, xe hơi hay ánh sáng lập lòe xanh đỏ của phố thị như nhiều người đã ngộ nhận. Nếu chỉ nhìn vào một số thành phố, đô thị được xây dựng, có thể bị ngộ nhận là đời sống xã hội đã thự sự phát triển, nhưng nếu đi vào toàn diện thì lại thấy ngược lại với một bóng tối cơ cực vẫn bao trùm đời đời sống của đại đa số người dân. Đại đa số không đủ cơm ăn, áo mặc, con số trẻ em thất học rất cao hiện đang kiếm sống trên những vỉa hè phố thị hay trên những bãi rác khổng lồ của xã hội. Sự thay đổi bề ngoài này chỉ là những cơ hội cho quan chức đảng và nhà nước chia nhau  “chấm mút” làm giầu từ những số tiền vay mượn từ ngoại quốc, trong khi tất cả mọi lãnh vực quan trọng khác của xã hội lại bị lãng quên. Như vậy thử khỏi làm sao có thể phát triển để đi đến “dân giầu, nước mạnh” như những khẩu hiệu đảng và nhà nước thường rêu rao. 
 
Nói về một đất nước thực sự phát triển, tất nhiên đời sống xã hội phải ổn định, người dân phải được an cư, lạc nghiệp, trong khi tại Việt Nam dưới chế độ CS, cái gì cũng suy thoái và đời sống xã hội rất bấp bênh. Nhìn vào xã hội Việt Nam trong hiện tại, y tế lạc hậu không đủ sức phục vụ bệnh nhân, giáo dục thì suy đồi, trường sở thiếu thốn, thành phần giảng dạy thiếu chất lượng và thiếu cả lương tâm chức nghiệp, cộng thêm chương trình giảng dạy mang tính từ chương bưng bít, nhồi sọ, bằng cấp buôn bán như hàng hóa ngoài chợ trời, kiến thức tổng quát của người dân cũng bị khống chế bởi hệ thống ngăn cấm thông tin, từ đó người dân cũng không thể định được vị trí, vai trò và trách nhiệm của mình trong xã hội một cách chính xác, cộng thêm tham nhũng, hối lộ chằng chịt đan vào nhau như một mạng lưới vững chắc từ hạ tầng đến trung ương. Như thế làm sao có thể phát triển đây? Đó là chưa nói đến tài nguyên quốc gia mỗi ngày một “thất thoát” đến mức trở thành vấn nạn để có thể đưa đến tình trạng vong quốc trong tương lai.
 
Riêng phần tham nhũng trong giáo dục được bà Marie Ottosson, Công sứ phụ trách hợp tác quốc tế của Đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam đánh giá là một lãnh vực quan trọng không được quan tâm đúng đắn, đã trở thành điểm quan trọng cản trở sự phát triển của đất nước Việt Nam trong hiện tại, bà nhận định :
 
“Mục tiêu trở thành một nước có thu nhập trung bình của VN khó thành hiện thực nếu hệ thống giáo dục còn tham nhũng” và ông Rolf Bergman, Đại sứ Thụy Điển tại Hà nội cũng cho biết: "người dân không còn kiên nhẫn, thời gian chẳng còn bao nhiêu trong cuộc chiến chống tham nhũng,". Một hệ thống mà ngay trong lãnh vực giáo dục cũng tham nhũng, bóc lột như vậy thì thử hỏi làm sao có thể đào tạo nhân tài để phát triển đất nước. 
 
Song song với giáo dục và y tế, nông dân bị mất ruộng cày, ngay đến nơi cư trú của người dân cũng không ổn định, bất cứ lúc nào người dân cũng có thể được gia nhập hàng ngũ “dân oan” để lang thang khiếu kiện như đã và đang từng xẩy ra trên khắp nẻo đường đất nước thì thử hỏi phát triển chỗ nào, có chăng chỉ phát triển được tham nhũng, bóc lột băng hoại, nghèo đói và lạc hậu. Còn lại tất cả chỉ là những tấp bình phong bịp bợm.
 
Nói về sự phát triển của Việt Nam dưới chế độ CS, ông Trần Xuân Giá, cựu Bộ trưởng Kế Hoạch Đầu tư CSVN cho biết tất cả chỉ là con số, không thực tế, ông Giá nhận định: "Chúng ta không thể tiếp tục tư duy tăng trưởng theo lượng, khuếch đại, sùng bái con số và che đậy các khuyết điểm của nền kinh tế được nữa... Nếu không, càng tăng trưởng, có thể chúng ta sẽ càng nghèo đi.". Đồng thuận với nhận định của ông Giá, ông Nguyễn Trần Bạt, Giám đốc Công ty Tư vấn Đầu tư tại Việt Nam cho hay: "Tôi đã nói điều này cách đây 10 năm. Trong một số bài báo, tôi cảnh báo tâm lý tăng trưởng bằng mọi giá. Tôi viết từ rất sớm. Hiện nay nó đẻ ra một cái thực tế mà (cựu) bộ trưởng phải lên tiếng. Chúng tôi, với tư cách là người trí thức bình thường, đã từng lên tiếng trước đó, cảnh báo trước đó, không chỉ cho Việt Nam. Mà cho tất cả các quốc gia kiểu Việt Nam". Đồng thời ông Đạt cũng cảnh báo "sùng bái con số sẽ đưa Việt Nam đến một kết cục không hay... Cho nên là tăng trưởng theo kiểu như thế này chính là một trong những biện pháp giết chết tương lai một cách chắn chắn nhất, không chỉ tương lai kinh tế, mà nhiều tương lai khác của Việt Nam."
 
Cũng xoay quanh vấn đề phát triển đất nước, rất nhiều nhân vật then chốt trong guồng máy cai trị CSVN đã nhìn thấy từ vài thập niên qua, nhưng không hiểu sao họ không “giác ngộ” và can đảm đưa ra lúc còn tại chức, mà cứ phải đợi đến lúc hồi hưu hay bị thất sủng họ mới dám lên tiếng như trường hợp các ông Võ Văn Kiệt, Trần Độ, Võ Nguyên Giáp, Lê Hồng Hà, Lê Đăng Doanh hay như ông cựu bộ trưởng Trần Xuân Giá hôm nay. Đây là một thắc mắc lớn của đại đa số dân Việt Nam kể cả trong nước lẫn hải ngoại thường quan tâm. Từ đó đa số nghĩ rằng, có lẽ khi tại chức những nhân vật này cũng không khác những nhân vật trong hiện tại, biết nhưng không thể nói vì quyền lợi cá nhân. Như vậy, phải chăng tình yêu hay sự quan tâm đến đất nước của những con người CS chỉ có thể xuất hiện khi không còn quyền lực trong tay? Đây chính là điều bất hạnh nhất cho đất nước và dân tộc Việt Nam, nếu CSVN còn tồn tại trên quê hương.
 
Tóm lại, CS lúc nào cũng là CS và những con người CS không thể thay đổi khi còn quyền lực. Do đó muốn đất nước được thực sự phát triển, chỉ còn một cách duy nhất làm sao có thể tập trung được sức mạnh của dân tộc triệt tiêu đảng và chế độ CSVN. Chỉ khi nào những con người CSVN mất hết quyền lực, tình yêu nước mới có thể xuất hiện nơi họ như những nhân vật “yêu nước” nêu trên. Ngược lại, một khi đảng và nhà nước còn nắm trọn quyền lực trong tay, thì sự hy vọng phát triển đất nước và con người, để người dân được tự do, “an cư, lạc nghiệp”, đào tạo nhân tài  và đi đến “dân giầu nước mạnh” hầu có thể sánh vai cùng các nước trong vùng và giữ vững bờ cõi vẫn chỉ là một ảo vọng. 
 
Phạm Thanh Phương (SGT - Úc Châu)

Sau nhiều ngày với những phiên họp “sôi nổi”, nay Quốc hội CSVN đã có quyết định bác bỏ dự án đường sắt cao tốc từ nhà nước đưa ra. Sự kiện này đã xuất hiện như một cơn lốc xoáy, cuốn hút dư luận vào một đề tài khá sôi nổi kể cả trong và ngoài nước, đặc biệt đối với một số người quan tâm, hay nghiên cứu xã hội Việt Nam dưới chế độ độc tài toàn trị của CS. Nhìn vào sự kiện, một số người phấn khởi cho rằng Quốc hội CSVN hiện tại là những người rất sáng suốt và can đảm, họ đã tạo được một sự đột phá có thể nói là ưu việt, chưa từng xẩy ra trong lịch sử CSVN. Đồng thời sự đột phá này đương nhiên sẽ trở thành một khởi điểm tạo ra một tiền lệ, đưa đến một nền dân chủ đích thực, mang tính minh bạch bạch với hệ thống “Tam quyền phân lập” rõ ràng cho Việt Nam trong một tương lai gần, mặc dù đất nước vẫn nằm trong tay một chế độ độc đảng CSVN. Ngược lại, đa số lại cho rằng sự kiện này chỉ là một vở tuồng “dân chủ” được coi như là một tấm bình phong làm giảm bớt sự căng thẳng từ mọi áp lực, từ nhiều mặt trong cũng như ngoài nước.  Để đi vào sự kiện, ông Lê Đăng Doanh, một cựu cố vấn nhà nước CSVN cho biết:”Họ tin rằng đây là vụ việc chưa từng có và có thể tạo ra tiền lệ hoạt động của quốc hội trong tương lai. Họ đã lầm, bởi lẽ bản thân của dự án đường sắt cao tốc là một vụ việc rất hiếm hoi, mà ngay trong Bộ Chính Trị đảng CSVN, một cơ quan quyền lực tối cao cũng đã không ủng hộ và đó là lý do quốc hội bác bỏ dự án”. Như vậy, quốc hội CSVN có thực sự “can đảm” đột phá để đưa đến sự độc lập trong thế “Tam quyền phân lập” chưa, hay vẫn là một công cụ của đảng CSVN trong chính sách “Tam quyền phân công” như từ xưa đến nay?
Cũng trong sự kiện này một số người cho rằng, do sức ép của quốc hội Hoa kỳ trong tiến trình “dân chủ hoá toàn cầu” và sức ép từ nhiều phiá của toàn dân Việt trong và ngoài nước, nhất là những phản ứng mạnh mẽ từ những nhân vật tầm cỡ trong đảng CSVN dù đã hồi hưu hay tại chức, kể cả những phản ứng mạnh mẽ của các Bloggers rải rác khắp hệ thống Internet. Vì vậy, đảng và nhà nước CSVN đành phải nhượng bộ, chỉ thị cho quốc hội để có quyết định “can đảm” bác bỏ dự án này. Ngược lại đa số lại cho rằng, bản chất CSVN là một loại độc tài lỳ lợm, “cưỡng từ đoạt lý”, không thể giác ngộ “đột xuất” biết lắng nghe tiếng nói trung thực cuả bất cứ ai hay vì quyền lợi chung của đất nước để có một sự thay đổi với thiện ý ích quốc, lợi dân. Hơn nữa, có lẽ ai cũng hiểu Hoa kỳ là một nước kinh tế, đang o bế CSVN vì quyền lợi của họ, những khuyến cáo hay lên án CSVN chỉ là hình thức, không đủ sức tác dụng để CSVN phải “bóp bụng” tuân theo. Bằng chứng cho thấy, những sự kiện đàn áp tôn giáo, xử dụng bạo lực để tước đoạt nhân quyền, nhân phẩm của dân tộc Việt từ xưa đến nay thì sao, tất cả cũng đã có phản ứng mạnh mẽ từ nhiều phía, trong thời gian dài liên tục, nhưng kết quả ra sao có lẽ ai cũng rõ. Ngay cả hiện tượng Boxite tại Tây Nguyên và những uất nhục trên biển đông hiện tại cũng không ngoại lệ. Vì thế, nếu nói rằng vì quyền lợi của đất nước và dân tộc hay với những sức ép nào đó từ nhiều phiá để CSVN phải thay đổi là một điều không thể xẩy ra, trừ khi sự thay đổi ấy tạo được những cơ hội “chấm mút” làm giàu của từng cá nhân trong guồng máy cai trị. Do đó đa số cho rằng, có thể sau khi nghiên cứu, đảng và nhà nước nhận thấy dự án quá bấp bênh, phải thuê mướn quá chuyên gia và qua nhiều trung gian ngoại quốc, bản thân những nhân vật then chốt của đảng và nhà nước cảm thấy không chấm mút được bao nhiêu, ngược lại có khi còn đổ nợ, hoặc cũng có thể vì số tiền quá lớn, không nơi nào dám cho vay khi họ nhìn thấy sự bồi hoàn chỉ là một viễn tượng. Do đó, đảng và nhà nước phải ra chỉ thị cho quốc hội “đồng thuận” tuyên bố bác bỏ để xếp lại dự án một cách danh chính, ngôn thuận để che mắt thế gian qua chiêu bài dân chủ.  
Cũng trong sự kiện này, đại biểu quốc hội CSVN Nguyễn Minh Thuyết đã nói với hãng thông tấn AFP rằng: “đã thể hiện xu hướng “dân chủ hơn” trong hàng ngũ đại biểu”. 
Trong khi đó ông David Koh, một chuyên gia nghiên cứu Đông Nam Á Châu nhận định: “Tiến bộ dân chủ? Tôi không biết chúng ta có thể đưa ra lập luận xa đến như vậy hay không?”. Đồng thời ông Lê Đăng Doanh và ông David Koh cũng nhận định dù sao chăng nữa “Đây thực sự là một ảnh hưởng tâm lý mạnh”.
Thực sự mà nói, sự kiện lần đầu tiên trong lịch sử CSVN, quốc hội đã bác bỏ một dự án đã được đảng và nhà nước “hồ hởi, phấn khởi” cho là một việc làm siêu việt để phát triển đất nước chắc chắn đã tạo được “một ảnh hưởng tâm lý mạnh” hầu có thể ru ngủ người dân ngộ nhận “đã thể hiện xu hướng “dân chủ hơn” trong hàng ngũ đại biểu” mặc dù đất nước vẫn nằm trong một chế độ độc tài toàn trị. Từ hiện tượng “ảnh hưởng tâm lý mạnh” này, rất có thể sẽ làm suy giảm hoặc triệt thoái niềm tin nơi người dân trong công cuộc đấu tranh chung tìm tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam. Đồng thời hiện tượng “ảnh hưởng tâm lý mạnh” này cũng sẽ là một cơ hội để một số con buôn chính trị dễ dàng tuyên truyền, lợi dụng cơ hội nối kết với CSVN một cách danh chính ngôn thuận, hầu có thể “dây máu, ăn phần” chia chác chút lợi nhuận trên xương máu của dân tộc và uất nhục cuả quê hương.  
Tuy nhiên đa số người dân Việt Nam đã sáng suốt nhận ra, sự bác bỏ dự án của quốc hội CSVN cũng chỉ là một vở tuồng “Nhất cử lưỡng tiện” do đảng và nhà nước CSVN dựng sau khi nhận thấy nhiều điều bất lợi, khó có thể chấm mút như ý muốn. Với vở tuồng “Nhất cử lưỡng tiện” này, một mặt dùng lừa bịp cho thế giới thấy được, mặc dù trong chế độc đảng cai trị, nhưng dưới sự lãnh đạo anh minh của đảng và nhà nước CSVN, đất nước lúc nào cũng có dân chủ, quốc hội lúc nào cũng độc lập và là một cơ quan quyền lực tối cao của đất nước, không phải là những con rối do đảng thao túng như những nhận định sai lầm của thế giới từ xưa đến nay. Mặt khác, chứng tỏ được mặc dù dự án tầu cao tốc là một dự án thiết thực, với uy tín và sự lãnh đạo anh minh của đảng tất nhiên thừa khả năng thực hiện. Nhưng vì tôn trọng dân chủ, nên đảng và nhà nước đành phải tuân theo ý dân qua quyết định của quốc hội. Tuy nhiên có một điều mà chắc chắn ai cũng biết, dưới chế độ CSVN không có gì là chắc chắn, hôm nay có thể xanh, mai có thể đỏ và rất có thể khi đảng và nhà nước cảm thấy tìm ra khe hở để “chấm mút” một cách khả quan, tất nhiên quốc hội sẽ phải tái nhóm họp để thay đổi ý kiến. Do đó, thông tín viên Ian Timberlake thuộc AFP Hànội đã nhận định “Quốc Hội Việt Nam biến chuyển, nhưng vẫn là CS”.  
Tóm lại sau 35 năm cưỡng chiếm toàn bộ đất nước, CSVN vẫn không thể  thống nhất được nhân tâm để tìm được sự ủng hộ của toàn dân. Ngược lại, người dân càng ngày càng xa lánh chế độ và sự phản kháng mỗi ngày một phát triển, mặc dù CSVN đã cố gắng dùng tất cả những thủ đoạn bỉ ổi nhất để khống chế. CSVN luôn cố gắng dùng bạo lực biến người dân Việt Nam trở thành những thần dân ngoan ngoãn của chế độ. Riêng cộng đồng người Việt tị nạn CS tại hải ngoại, không thể dùng bạo lực khống chế bằng bạo lực, nhưng  CSVN cũng đã tốn rất nhiều công sức, tài chánh và một lực lượng việt gian khá hùng hậu, xâm nhập chiêu dụ và ru ngủ qua nhiều hình thức. Tuy vậy, tất cả cũng thất bại bởi những hành xử dã man, tàn bạo phi nhân bản một cách trắng trợn đã và đang xẩy ra hàng ngày trên khắp nẻo đường đất nước. Ngoài ra, những sự kiện buôn dân, bán nước một cách hèn hạ cũng chẳng che giấu được ai. Từ đó, các phong trào đấu tranh tại hải ngoại cũng gia tăng nối kết với quốc nội. Vì vậy, CSVN luôn phải tạo ra những hiện tượng hoả mù bịp bợm trong nhiều lãnh vực, mong rằng sẽ làm giảm thiểu tới mức tối đa ngọn lửa đấu tranh trong toàn dân kể cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, dù đảng và nhà nước CSVN có bịp bợm gì chăng nữa, những người quan tâm đến đất nước đều biết CS lúc nào cũng là CS, là một loại quái thú của thể kỷ, không bao giờ có thể lột xác để đứng thẳng làm người... Một ngày CS còn ngự trị trên quê hương, một ngày dân Việt còn đau khổ và đất nước sẽ tan hoang trong tay ngoại bang. Do đó, đừng bao giờ vì một lý do nào đó mà quên đi câu di ngôn của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu “Đừng tin những gì CS nói, hãy nhìn kỹ những gì CS làm” để phải bị chệch hướng đấu tranh như mộ số hiện tượng từ cá nhân hay phe nhóm đã thể hiện.  

  • Phạm Thanh Phương (SGT-Úc Châu)

Trong những ngày gần đây, sự kiện dự án đường sắt cao tốc tại Việt Nam đã trở  trành một đề tài khá xôn xao, kể cả trong và ngoài nước với nhiều chiều hướng khác nhau.
Nói về dự án này, nhiều người cho rằng đây chỉ  là một giấc mộng điên cuồng của CSVN, xuất phát từ bản chất khoe khoang, thích trò chơi nổi bật để chứng tỏ một sự phát triển đang lên cao nhờ sự lãnh đạo tài ba của đảng và nhà nước CSVN. Ngược lại, đại đa số cho rằng dự án chỉ là cái cớ để đảng bán rẻ tài nguyên quốc gia hầu tiếp tục vơ vét, đong đầy cho cái túi tham không đáy của giai cấp lãnh đạo, đồng thời biến toàn thể gần 90 triệu dân Việt trở thành những kẻ nô lệ của thế giới trong tương lai qua nhiều thế hệ và đất nước Việt Nam sẽ trở thành tan hoang, khô cằn sỏi đá. Tuy nhiên, đảng và nhà nước lại cho rằng dự án này rất cần thiết để phát triển đất nước đi đến giầu mạnh, hầu có thể vươn lên đứng ngang hàng với các nước trong vùng.
Để đi sâu vào vấn đề, theo dự án sơ khởi, kinh phí phải chi ra khoảng 56 tỷ Mỹ kim và theo Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Hồ Nghĩa Dũng cho biết dự án sẽ tăng lên đến khoảng 63.114 triệu USD. Như vậy, những câu hỏi được đặt ra là tiền ở đâu để thực hiện dự án này ngoài việc đi vay nợ, và với số nợ khổng lồ này ai sẽ phải trả và trả ra sao??? Với sự kiện này, đại đa số cho rằng sau này đảng và nhà nươc CSVN sẽ có đầy đủ lý do để bán rẻ tài nguyên với chiêu bài trả nợ, đồng thời người dân Việt Nam cũng sẽ phải “thắt lưng, buộc bụng” hy sinh rất nhiều mồ hôi, nước mắt qua nhiều thế hệ một cách danh chính, ngôn thuận. Hơn nữa, với một quốc gia qúa nghèo và lạc hậu như Việt Nam dưới XHCN, một con đường sắt cao tốc không phải là một nhu cầu cần thiết trong đời sống hàng ngày của người dân đến nỗi phải hy sinh quá nhiều như thế, có chăng chỉ để phục vụ cho một số người thuộc giai tầng thống trị tiện việc du hí, làm ăn. 
Ngoài ra, theo ước tính của một số tin trong nước cho biết, vấn đề trước mắt nếu thực hiện dự án này, tất nhiên sẽ có khoảng hơn 16 ngàn gia đình sẽ bị ảnh hưởng, trong đó gần 9 ngàn 500 gia đình bị mất chỗt ở, và hơn 7 ngàn gia đình bị mất đất sản xuất, điều này không biết đảng và nhà nước giải quyết thế nào, hay dự trù xếp họ vào thành phần “dân oan” để được lang thang khiếu nại như những “dân oan” đã và đang lang thang “khiếu kiện” trong nhiều năm qua. Một xã hội còn quá nhiều nhiêu khê, bất công, bất ổn, thì làm sao đất nước có thể phát triển bằng những dự án vĩ đại như thế này được, vì thế  những giải thích của đảng và nhà nước chỉ là những khẩu hiệu trấn an và bịp bợm.
Một nghịch lý rõ ràng mà ai cũng thấy, trong khi đảng và nhà nước tính những công trình vĩ đại thì đời sống người dân lại đói rách, bấp bênh đầy sự may rủi. Điển hình theo báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên đưa tin, “Người dân thuộc Huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kontum hàng ngày phải đu dây qua sông Pô Kô vì toàn bộ hệ thống cầu treo đều đã bị lũ cuốn trôi”. Người dân Ngọc Hồi đang phải đánh đu với mạng sống để mưu sinh, trong đó phải nói đến những em bé cũng phải đu dây qua qua một con sông với lưu lượng khá mạnh để đi học. Đó là chưa kể đến cả hàng triệu người vẫn chưa có đủ cơm ăn, áo mặc, môi sinh ô nhiễm, bệnh hoạn không có đủ thuốc chữa, đang nhan nhản trên khắp nẻo đường đất nước và biết bao nhiêu trẻ em thất học cũng đang cần được giải quyết. 
Nói về việc phát triển đất nước, thiết nghĩ lãnh vực quan trọng nhất vẫn là làm sao phát triển được nhân tài, một đất nước có nhiều nhân tài tất nhiên sẽ phát triển được tất cả mọi mặt của xã hội. Nhìn lại lịch sử thế giới từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim, không một quốc gia nào được gọi là phát triển mà chỉ biết đi vay nợ xây dựng, mà không chú trọng đến việc phát triển nhân tài. Điển hình như Nhật và Nam Hàn, hai quốc gia này phát triển mạnh là nhờ vào nhân tài của nước họ, họ biết đầu tư vào giáo dục, họ luôn cập nhật để đào tạo chuyên gia, vì vậy họ mới có được sự giầu mạnh như ngày nay. Trong khi đó, nền giáo dục tại Việt Nam dưới XHCH quá lạc hậu và yếu kém về mọi mặt, chương trình học hạn chế, hạn chế cả trường sở và số người đi học. Theo nhiều nhận định của ngành giáo dục trong nước cho thấy,  một nửa chương trình học hầu như tập trung vào lịch sử đảng, đạo đức và tư tưởng Hồ Chí Minh, một tư tưởng và đạo đức bịp bợm, vong nô, băng hoại của lịch sử. Như vậy đến bao giờ Việt Nam mới thực sự được phát triển hay chỉ được phát triển trên giấy tờ và những khẩu hiệu của đảng và nhà nước đã và đang rêu rao từ nhiều thập kỷ qua. Một hệ thống xã hội “hồng hơn chuyên” vẫn tồn tại một cách hiên ngang, mạnh mẽ, thêm vào đó bằng cấp được mua bán như hàng hoá, từ đó toàn thể thành phần lãnh đạo, điều hành xã hội đều là những kẻ ngu đần chỉ biết tung hô khẩu hiệu như cái máy, thì dù có thực hiện được cả ngàn dự án to lớn gì đi chăng nữa cũng chỉ khiến đất nước tan hoang và dân tộc tiếp tục lầm than, nô lệ để trả nợ hết từ đời này đến đời kia cũng chưa xong, nói chi đến phát triển để chen vai với các nước trong vùng.
Cũng trong sự kiện này đa số cho rằng, ngoài vấn đề tạo điều kiện tham ô chia chác trong dự án, CSVN còn tạo ra một hình thức dân chủ bịp nhằm tập tung dư luận, đánh lạc hướng sự quan tâm của người dân trước vấn đề tồn vong của đất nước. Sự bịp bợm này được thể hiện qua việc họp hành, bàn bạc rất sôi nổi của Quốc hội trong nhiều ngày qua. CSVN đã tạo ra những tranh cãi trong Quốc hội giống như các nước dân chủ trên thế giới, xem ra cũng có vẻ hấp dẫn để tạo một hình thức đa nguyên, mặc dù vẫn nằm trong hệ thống độc đảng, độc tôn. Tuy vậy, đại đa số người dân vẫn biết được tất cả không nằm ngoài câu tục ngữ  “mười voi không được một bát nước xáo”, và cuối cùng chỉ thị của đảng đưa xuống vẫn được Quốc hội thi hành nghiêm chỉnh dù thuận hay nghịch lại dự án, nó cũng sẽ chẳng khác nào sự kiện Bauxite tại Tây Nguyên vừa qua. Đây cũng là một chiêu bài “bật đèn xanh” cho một vài phe nhóm chính trị “ngoại vi” tại hải ngoại có đầy đủ lý do thực hiện sự nối kết, hoà nhập để cùng canh tân đất nước theo định hướng XHCN. Một khi có sự nối kết từ những thế lực hay phe nhóm chính trị tại hải ngoại. Tất nhiên, tiềm lực đấu tranh của khối cộng đồng người Việt Tỵ nạn CS trên khắp thế giới sẽ bị hoá giải từng phần và đi đến triệt tiêu. Từ đó, các cao trào đấu tranh trong nước cũng lung lay, mất định hướng và cuối cùng chỉ còn lại hệ thống đảng và nhà nước mặc tình thực hiện sự nghiệp buôn dân, bán nước theo tư tưởng vong nô của Hồ Chí Minh để lại. 
Tóm lại, dự án “Đường Sắt Cao Tốc” chắc chắn không có lợi gì cho đất nước, nó cũng không phải là một sự phô trương mang tính láu cá vặt của đảng và nhà nước CSVN để chứng tỏ một sự phát triển đối với các nước trong vùng. Ngược lại, chính là một âm mưu tạo cơ hội  để vơ vét, chia chác của thành phần thống trị, bóc lột bồ hôi, xương máu của giai cấp bị trị qua nhiều thế hệ mai sau. Đồng thời, có cớ để khai thác, bán rẻ tài nguyên quốc gia một cách danh chính, ngôn thuận qua việc trả nợ. Do đó, vì sự tồn vong của đất nước, hy vọng người dân Việt Nam nói chung và các thế lực chính trị nói riêng, cần nên tỉnh táo đối diện với thực trạng, hầu kết hợp đưọc sức mạnh cuả dân tọc làm vũ khí lật đổ tập đoàn gian manh bạo ngược CSVN. Chỉ khi nào CSVN biết mất trên quê hương, lúc đó đất nước mới có thể phát triển. Bằng ngược lại, một ngày CSVN còn tồn tại trên quê hương, một ngày nguy cơ mất nước còn đe dọa và dân tộc còn bị đoạ đầy. 
 
    • Phạm Thanh Phương 

    -Phạm Thanh Phương-
     

    Ba Mươi Tháng Tư, một ngày tang chung của dân tộc Việt, mặc dù thời gian đã trôi qua 35 năm tưởng chừng như một giấc mộng và sẽ phải mờ nhạt để chôn vùi theo thời gian. Tuy nhiên, khi nhìn vào thực trạng của đất nước, tất cả những tang thương đó lại trở về một cách đậm nét hơn, trộn lẫn với thực tại, để lòng người nơi viễn xứ thêm trăn trở, ưu tư và càng thấm thía hơn với cuộc đời lữ thứ. Chính vì thế, tưởng niệm ngày 30-4 không hẳn chỉ đơn thuần là một cái tang chung trong quá khứ, mà còn là một sự nhắc nhở nỗi uất ức, hờn căm của hiện tại, để làm hành trang đi tìm một con đường rửa hờn cho dân tộc và rửa nhục non sông.

    Trong những ngày cuối tháng tư, bầu trời dường như u ám hẳn ra như một niềm giao cảm của trời đất để chứng tỏ "Cảnh cũng biết chiều lòng người", những tấm lòng còn nặng tình với quê hương, dân tộc... Cũng vào trong những ngày cuối tháng Tư, ký ức đã trỗi dậy để những hình ảnh xưa cũ lại hiện về một cáct tất rõ rệt như một cuốn phim tài liệu với những tang thương, mất mát của một khúc quanh đen tối nhất của lịch sử Việt Nam. Những tiếng đạn pháo kích 122 ly, 130 ly tràn ngập thành phố, hoà lẫn với tiếng nghẹn ngào gọi nhau trong máu lửa... Máu, lửa, đạn, mìn lan tràn trên khắp nẻo quê hương, không gian như ngừng thở, những giọi nước mắt nghẹn ngào tiễn đưa một chế độ tự do, dân chủ trong giờ phút cuối cùng. Mọi người nhìn nhau ngơ ngác, ưu tư, sợ sệt, bên cạnh những nụ cười nham nhở của bầy dã thú đang say xưa trên những đống thịt vụn còn vương đọng máu tươi của dân lành vô tội...

    Tất cả đã đến một cách quá bất ngờ, ngỡ ngàng tưởng chừng như là một huyền thoại, người người băn khoăn nhìn nhau tự hỏi, chúng ta bị mất thật rồi sao? Không thể nào! Không thể nào! Nhưng cuối cùng sự thật vẫn là sự thật. Một sự thật phũ phàng mà tất cả đều phải chấp nhận từ giã những gì thân thương nhất của đời người với những chữ tự do, dân chủ và tình yêu nhân bản, để lầm lũi dắt díu nhau đi vào ngưỡng cửa địa ngục trần gian mà CSVN đang mở rộng... Cũng ngay trong lúc ấy, những phét lác lừa bịp, dồn dập phơi bày một cách trơ trẽn, rõ rệt trên những khuôn mặt lạnh lùng sắt máu. Cuộc sống ấm no của người dân miền Nam đã thực sự được thay thế bằng những đói rách lọc lừa bên củ khoai, củ sắn... Khốn khổ, sợ sệt, thanh trừng, cướp bóc, trả thù, đã đưa người dân miền Nam đi từ hốt hoảng, sợ hãi đến kinh tởm... Lúc này tất cả mọi người đều biết rằng, chẳng còn con đường nào tốt hơn là tìm cách ra đi. Từ đó, phong trào vượt biên bắt đầu khởi sự và tự điển thế giới đã vinh dự thêm được hai chữ "Thuyền nhân", hai chữ thân thương được kết tinh bằng sự chia ly mang đầy máu và nước mắt của cuộc đời.

    Người ta thường nói "Cây có cội, nước có nguồn", thực sự không ai muốn rời bỏ quê hương mình, nơi đã chứa dựng biết bao nhiêu dấu ấn của tình tự quê hương, nơi đã chứa đựng biết bao nhiêu xương máu của dân tộc với dòng lịch sử oai hùng dựng nước và giữ nước. Không ai muốn bỏ lại gia đình, bạn bè, làng xóm, mồ mả tổ tiên và tất cả những gì thân thương nhất trong cuộc đời. Khi bước chân ra đi, tất cả đều hiểu chắc chắn sẽ phải đối diện với bao nhiêu nghịch cảnh, nghiệt ngã tang thương như đói khát, cướp bóc, hãm hiếp và kể cả lưỡi hái của tử thần đang sẵn sàng chờ đón. Tuy vậy, vì không có gì qúy hơn hai chữ "tự do", nên đành phải chấp nhận "Cũng liều nhắm mắt đưa chân, để xem con tạo xoay vần đến đâu". Cũng trong thời ấy, một câu nói được truyền tụng trong dân gian như một câu kinh nhật tụng hay một lời tâm niệm "Một là con nuôi má, hai là má nuôi con, ba là con nuôi cá"... Đúng vậy, cả ba trường hợp trên đều được ứng nghiệm, có những người bị bắt tập trung trong hững trại tù với mỹ danh "cải tạo", có những con thuyền đã vĩnh viễn đi sâu vào lòng đại dương và cũng có những con thuyền lang thang mấy tháng trời trên biển cả, đói khát quằn quại và cuối cùng cũng may mắn cập bến tự do... Bao nhiêu tang thương chồng chất, con mất cha, vợ mất chồng, anh em mất nhau ,v,v. 

    Giờ đây, tất cả đã qua đi như một cơn ác mộng, còn lại chăng là những kỷ niệm như những vết thương loang lổ hằn sâu trong tâm hồn người lạc xứ, không biết bao giờ mới có thể lành lại... Chính vì vậy những người ly hương với danh nghĩa "Tỵ Nạn Cộng Sản" luôn hun đúc tình yêu nhân bản, quyết tâm tìm ngày trở về xây dựng lại quê hương, chia xẻ với quê hương và dân tộc tất cả những tự do, dân chủ và nhân quyền đúng nghĩa của nó đã gặt hái trên những mảnh đất "tạm dung". Cũng vì thế các phong trào đấu tranh tại hải ngoại vẫn tiếp tục không ngừng nghỉ từ 35 năm qua, mặc dù Việt cộng và Việt gian cũng đã nỗ lực rất nhiều trong sự xâm nhập đánh phá. Sự đấu tranh chống chế độ tàn bạo phi nhân của người Việt tỵ nạn tại hải ngoại không phải vì những hận thù của quá khứ như CSVN tuyên truyền, mà tất cả chỉ là của hiện tại. Một hiện tại khắc nghiệt, khốn cùng, phi nhân mà CSVN đang đè nặng trên đầu dân tộc... Đất nước mỗi ngày một tang thương hơn, uất nhục hơn. chủ quyền quốc gia đã và đang bị xâm phạm một cách trần trọng, đất biển bị mất, dân tộc lầm than, khủng bố, trù dập vẫn tiếp tục lan tràn trên khắp nẻo giang sơn. Trong khi đó, các phong trào đấu tranh trong và ngoài nước tuy bộc phát mạnh, nhưng cũng gặp nhiều trở ngại vì những thủ đoạn hèn mạt của CSVN và bè lũ tay sai nhiễu loạn. Trong nước, công cuộc đấu tranh cũng chưa kết hợp được sức mạnh hầu có thể tạo được phong trào thức ngộ lòng dân. Riêng tại hải ngoại thì Việt cộng, Việt gian cũng gia tăng xâm nhập lũng loạn dưới mọi hình thức. Tất cả như một chiến dịch, mong giảm thiểu đến triệt tiêu niềm tin nơi cộng đồng người Việt tỵ nạn. Một khi niềm tin đã hoàn toàn tàn lụi, lúc ấy sẽ biết cộng đồng tỵ nạn CS trở thành thần dân của chế độ phi nhân CSVN, để CSVN và bè lữ tay sai có thể thong dong kiện toàn "sự nghiệp" buôn dân, bán nước từ tên tội đồ Hồ Chí Minh để lại.

    Trải qua 35 năm, những nỗ lực đấu tranh đã có chút thành tựu, những tiếng nói của lương tri mỗi ngày một cất cao như những tiếng vọng của tình yêu đã và đang trải dài trên khắp nẻo đường đất nước. Những hình ảnh tiêu biểu như Lm Nguyễn văn Lý, HT Thích Quảng Độ,v,v, đã và đang tiến bước trong niền tin và hy vọng của một tương lai tươi sáng cho dân tộc. Ngoài ra những sự kiện mang tính rộng lớn hơn như Thái Hà, Tam Tòa, Đồng Chiêm... cũng đã xuất hiện như một ánh sáng của niềm tin mặc dù kết quả chưa ai có thể nhìn thấy, nhưng chắc chắn những ánh sáng ấy không bao giờ có thể tàn lụi, mà ngược lại sẽ tiếp tục bùng lên cho đến khi thực sự tự do, dân chủ và nhân quyền được trở về để đưa chế độ phi nhân CSVN vào hố sâu đen tối của lịch sử.

    Dựa trên những thành quả đấu tranh của đồng hương trên khắp thế giới, hy vọng ngày biểu tình chống cộng sản nhân dịp 35 năm Ngày Quốc Hận do Cộng Đồng NVTD tổ chức vào Chủ Nhật 2 /5 năm nay, số người tham dự sẽ đông hơn, khí thế hào hùng hơn mọi năm, hầu tạo được nền tảng vững chắc hơn cho những bước tiến trong tương lai trên con đường đấu tranh giành lại tự do, dân chủ, nhân quyền và bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ, biên cương.

    -Phạm Thanh Phương-
     

    Trong tuần lễ vừa qua, dư luận trong và ngoài nước đang chăm chú theo dõi những bản “Phúc trình thường niên về tình hình nhân quyền” từ Bộ Ngoại Giao của một số nước tự do trên thế giới có liên quan đến tình hình nhân quyền tại Việt Nam, đặc biệt là hai bản phúc trình từ hai quốc gia Anh và Mỹ. Riêng bản “Phúc trình thường niên về tình hình nhân quyền” của Bộ Ngoại Giao Anh quốc đã làm cho một số người Việt Nam tỏ ra thất vọng và bất mãn khi đọc được dòng chữ

    "Cho tới gần đây, những thay đổi trong vấn đề nhân quyền tại Việt Nam đang đi theo quỹ đạo tích cực"[1]
    Một dòng chữ có vẻ mập mờ và được một số người mô tả là tượng trưng cho một sự dối trá, lươn lẹo, thiếu lương tâm. Tuy nhiên, một số khác lại nhận định đây chỉ là một loại ngôn ngữ ngoại giao, tạo bức màn “Dĩ Hoà Vi Qúy” để đi đến một mục tiêu khác lớn hơn và khôn khéo hơn.

    Nếu đọc kỹ bản phúc trình, có lẽ ai cũng thấy được nội dung không hẳn chỉ ca tụng CSVN đã thay đổi và tiến bộ trong lãnh vực cải tổ về nhân quyền. Ngược lại, bản phúc trình cũng đã đưa ra nhiều điểm, nhiều sự kiện liên quan đến những hành xử thô bạo vi phạm nhân quyền như ngăm cấm tư duy, bóp nghẹt quyền tự do thông tin và ngôn luận đang xẩy ra trên toàn cõi đất nước ViệtNam. Ngoài ra, bản phúc trình cũng nhấn mạnh đến những khủng bố trù dập có chiều hướng gia tăng và sự phi lý đối với những người đang ngụp lặn trong lao tù chỉ vì bày tỏ lòng yêu nước của họ.

    Để nhìn sâu bào sự kiện, mặc dù bản phúc trình của Bộ Ngoại Giao Anh quốc có tỏ ý khen ngợi “thiện chí” cải tổ nhân quyền, phát triển kinh tế xã hội của CSVN, nhưng cũng không quên đưa ra lời cảnh báo và những quan ngại với bản chất đầy thú tính CSVN và khuyến cáo cần phải giải quyết. Theo bản phúc trình nhận định:

    ”Để duy trì những thành tựu tích cực đã đạt được, điều cấp thiết cần làm là giải quyết vấn nạn tham nhũng tràn lan, cải tổ hệ thống quan liêu nặng nề, và người dân được phép chia sẻ ý kiến và thông tin một cách tự do".
    Điều này chứng tỏ chế độ CSVN vẫn là một chế độ phi nhân quyền, không có gì thay đổi, ngay cái quyền căn bản nhất của một con người cũng đã bị tước đoạt một cách trắng trợn và thô bạo đó là sự “chia sẻ ý kiến và thông tin một cách tự do". Chính vì thế nên bản phúc trình đã nhấn mạnh và cho là một điều cấp thiết cần phải giải quyết. Hơn nữa, bản phúc trình cũng nhấn mạnh một cách rõ ràng hơn khi “Nhà chức trách Việt Nam sử dụng các phương tiện kiểm soát chặt chẽ để kiểm duyệt thông tin và tin tức trực tuyến, theo dõi việc sử dụng và truy cập Internet".

    Cũng trong bản phúc trình nhận định, tình hình nhân quyền trong năm qua tại Việt Nam

    "đã có những dấu hiệu đáng lo ngại về việc Việt Nam mở rộng đàn áp các nhà hoạt động hòa bình"
    Với nhận định này không khác nào một thông điệp cho biết CSVN không những vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền mà còn có chiều hướng gia tăng trầm trọng hơn trước rất nhiều. Nếu xét về riêng câu văn này, hai chữ “mở rộng” đã diễn tả đầy đủ ý nghĩa một sự gia tăng đàn áp nhân quyền rõ ràng, chứ không mang ýù nghĩa suy giảm với một thiện chí nào đó, như lời nhậân định đầu tiên cho là CSVN đã “thay đổi... đi theo qũy đạo tích cực”. Tuy nhiên, thực sự mà nói, hai chữ “tích cực” mà Bộ Ngoại Giao Anh quốc xử dụng có vẻ mang tính mơ hồ, nó có thể mang ý nghĩa tốt và và cũng có thể xấu. Nếu đọc hết phần phúc trình về ViệtNam, người đọc cũng có thể hiểu là CSVN đang thì hành chính sách đàn áp, khủng bố có chiều hướng “tích cực” hơn trước rất nhiều.

    Ngoài ra, trong bản phúc trình cũng tỏ ra quan tâm đặc biệt đến những “Nhà đấu tranh dân chủ” đang bị trù dập, cầm tù như Ls Lê Công Định; ông Trần Huỳnh Huy Đức; Nguyễn Tiến Trung; Lê Thăng Long và 9 người khác bị kết án tù trong năm 2009 cũng chỉ vì họ đã nói lên những chính kiến bất đồng hoặc bày tỏ quan điểm về sự tồn vong của đất nước. Như vậy, với những nhận định nêu trên, thì CSVN đã thực sự tiến bộ trong lãnh vực nhân quyền chưa, và Bộ Ngoại Giao Anh quốc có thực sự giấu kín lương tri trước những thực tế hiên nhiên đầy thú tính của CSVN hay không, có lẽ trong mỗi cá nhân đều có câu trả lời chính xác.

    Xoay quanh “Phúc trình thường niên về tình hình nhân quyền” từ Bộ Ngoại Giao Anh quốc, đại đa số nhận định, đây chỉ là một chiến thuật rất tinh vi, khéo léo theo chiến thuật “Trong đánh, ngoài xoa” vì quyền lợi hay mục đích nào đó mà người ta thường thấy trong lãnh vực ngoại giao. Một câu khen mơ hồ như vỗ về một đứa trẻ, nhưng theo sau lại là một đống tội trạng cần phải lên án và giải quyết. Có lẽ cũng chính vì chiến thuật khôn khéo này mà CSVN cho là những nhận định khách quan trung thực, vì thế mãi cho đến nay phiá CSVN cũng chưa có một sư lên tiếng hay nhận định nào về bản phúc trình này.

    Song song với Anh quốc, bản “Phúc trình thường niên về tình hình nhân quyền” của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ mang tính thẳng thắn hơn, trực tiếp hơn và chi tiết hơn. Vì vậy, Phát ngôn viên cuả CSVN Nguyễn Phương Nga đã phải vội vàng lên tiếng phản đối và chỉ trích bản phúc trình “Không khách quan” “sai sự thật”. Không những thế, có lẽ vì bản phúc trình của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ quá thẳng thắn, trực tiếp với những sự thật hiển nhiên, tựa như một mũi tên bắn trúng yếu huyệt, nên CSVN đã tỏ ra bối rối, lúng túng không đủ suy nghĩ nên Phát ngôn viên Nguyễn Phương Nga phải cưỡng từ đoạt lý tuyên bố

    "Việt Nam luôn sẵn sàng hợp tác và đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế, trong đó có Hoa Kỳ để tăng cường hiểu biết lẫn nhau về những khác biệt, kể cả vấn đề quyền con người"
    Điều ngu xuẩn nhất của Nguyễn Phương Nga khi cho rằng “quyền con người” hay nhân quyền có sự khác biệt bởi không gian. Trong khi đó, cả thế giới cũng hiểu những quyền căn bản của con người đã được quy định rõ ràng trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền thì làm sao có thể có sự khác biệt ở chỗ này hay ở chỗ kia. Nói như thế, chẳng khác nào Nguyễn Phương Nga đang tự vả vào bộ mặt xuẩn độn của đảng và nhà nước CSVN. Hơn nữa, có nghĩa là tất cả những ai sinh ra trên trái đất này, đều được tôn trọng triệt để cái quyền làm người, chỉ riêng các nước CS như Việt Nam thì con người sẽ được coi như súc vật. Tất cả đều được mằm trong tay đảng và nhà nước tuy nghi uốn nắn, muốn bắt, đánh, bỏ tù lúc nào cũng được, không cần biết lý do như thế nào, chỉ cần biết “thuận ta thì sống, nghịch ta thì chết”. và như thế cũng không khác nào Nguyễn Phương Nga đã tự thú nhận đảng và nhà nước CSVN chính là một đám thú hoang chưa được thuần hóa.

    Tóm lại, qua sự việc nêu trtên cho thấy, cùng một sự việc, cùng một mục tiêu, nhưng mỗi quốc gia đều có hành xử khác nhau tuy theo sự uyển chuyển của từng hoàn cảnh và sự việc. Do đó, khi nhận định bất cứ một điều gì, cũng cần nên bình tĩnh xem xét thật kỹ toàn thể, hầu có thể tránh được sự ngộ nhận đáng tiếc có thể xẩy ra, không có lợi và có thể có hại, nhất là trong lãnh vực đấu tranh chung trong hiện tại. Trên thực tế, cả thế giới này, có lẽ không ai còn lầm lẫn về CSVN. Tuy nhiên, vì quyền lợi song phương, đôi khi có những điều trái khoáy, chói tai, nhưng đó chỉ là một loại ngôn ngữ ngoại giao vì quyền lợi song phương của từng giao đoạn. Điều quan trọng vẫn là sức mạnh đấu tranh của toàn dân Việt trong và ngoài nước, chỉ khi nào tập trung được sức mạnh dân tộc, thống nhất nhân tâm, chắc chắn lúc đó thế giới cũng khó có thể bưng tay nhắm mắt để đi ngược lại đạo đức và lương tri để ngược dòng nhân bản. Một điều người Việt Nam cần luôn ghi nhớ, CSVN chỉ là một đám quái thú, không thể nào có thể giác ngộ đứng thẳng làm người để hoà nhập vào đời sống văn minh tiến bộ cùng thế giới để thăng hoa nhân quyền, cải tiến dân sinh, phục hưng tổ quốc. Vì thế đừng cũng bao giờ hy vọng rằng CSVN có thể giác ngộ quay về với chính nghĩa dân tộc để cùng “canh tân đất nước” như một số tay sai, nằm vùng lập lờ tuyên truyền. 

    Tài Liệu Tham Khảo:
    [1] BBC radio News, 2010, Anh nói Việt Nam tiến bộ về nhân quyền, website
    The Foreign & Commonwealth Office, 2010, Annual Report on Human Rights 2009 (Bản Phúc trình thường niên về tình hình nhân quyền 2009), Anh Quốc
    http://centralcontent.fco.gov.uk/resources/en/pdf/human-rights-reports/human-rights-report-2009

    Phạm Thanh Phương (Úc Châu)


    LTS: Để rộng đường thảo luận, chúng tôi sẵn sàng chạy đăng bất cứ phản luận nào của tất cả quý độc giả đối với bài viết này, trong tinh thần tìm hiểu và xây dựng. NSVN Online. 


    Theo dõi dòng thời sự đấu tranh, ngay lúc Lm Nguyễn Văn Lý vừa được tạm “Đình chỉ bản án” để ra ngoài chữa bệnh. Ngày 14 -3-2010, một sự kiện đã làm rất nhiều người ngạc nhiên đến sửng sốt, khi được tin đảng viên đảng Việt Tân từ nước ngoài về công khai phát động tinh thần yêu nước qua sự kiện phát áo và mũ có in sáu chữ “TS-HS-VN”, được diễn tả là Trường Sa- Hoàng Sa là của Việt Nam tại khu vực quận Hoàn Kiếm, một nơi đông người nhất tại Thủ đô Hànội. Sự kiện này đã được bung ra như một trái phá, nổ tung nhiều nơi tại hải ngoại, và cũng đã làm cho dư luận trở nên xôn xao, có thể nói ồn ào hơn cả sự kiện Lm Lý vừa được “tạm đình chỉ bản án”.

    Để đi vào sự kiện một số người cho rằng, đây là một hành động táo bạo rất nguy hiểm mà đảng Việt Tân đã “thành công mỹ mãn” vì không gặp một trở ngại nào. Sự kiện cũng được một số người coi như là ánh sáng của niềm tin trong đấu tranh. Tuy nhiên đại đa số lại đặt vấn đề, phải chăng đây cũng là một chiêu bài, hay nói đúng hơn là một trận hoả mù tạo ra nhằm đánh lừa dư luận, mục đích thể hiện tinh thần giác ngộ đã biết yêu nước của đảng CSVN. Đồng thời tập trung dư luận làm nhạt phai những việc buôn dân, bán nước của CSVN qua sự kiện cho Trung cộng Đài Loan, HồngKông thuê 300 ngàn Hecta đất tại 10 tỉnh phía bắc đang làm nhức nhối trong toàn dân.

    Thực sự mà nói, với sáu chữ viết tắt “TS-HS-VN” ai muốn hiểu sao cũng được, nó tựa như những chiếc áo hay mũ quảng cáo cho một công ty hay một sản phẩm nhan nhản khắp thế giới, đặt trường hợp Trung cộng có thấy chăng nữa, họ cũng chẳng hiểu gì. Tuy nhiên, theo một cuộc phỏng vấn của RFA [2], phóng viên Nguyễn Khanh đã bày tỏ nhận xét và cho rằng đây là một sự kiện rất táo bạo và nguy hiểm mà đảng Việt Tân đã thực hiện. Ngược lại, khi phỏng những người thực hiện, họ lại cho biết đây chỉ là một việc hết sức đơn giản, mang tính hợp pháp dù dưới chế độ độc tài, toàn trị CSVN. Một trong những đảng viên Việt Tân tại hiện trường cho RFA biết “Công việc anh em chúng tôi làm rất là đơn giản, ôn hoà và trật tự. Chúng tôi có nhã ý gởi tặng đồng bài Hànội nói chung và quận Hoàn Kiếm nói riêng một số mũ và áo, trên những chiếc mũ và aó đó có những dòng chữ “TS-HS-VN” có nghĩa là Trường Sa-Hoàng Sa là của Việt Nam”.

    Khi được hỏi về tổng số áo và mũ đã phân phát, đảng viên Việt Tân này không cho biết đích xác, nhưng cho biết “Anh em chúng tôi cũng không tưởng tượng được số người qúa đông, chúng tôi mang theo hai Balô lớn và chỉ trong vòng 30-45 phút đã phát hết”. Đảng viên Việt Tân này cũng cho biết thái độ người dân tỏ ra rất “tích cực” khi nhận áo và mũ :”Bà con hưởng ứng vui vẻ, sẵn sàng mặc những chiếc áo, và đội những cái nón ấy để chụp hình chung với chúng tôi”. Được hỏi khi thực hiện công việc phát áo và mũ, có sự hiện diện của lực lược công an CSVN, công an thành phố, công an khu vực, công an giao thông tại đó hay không. Đảng viên này cho biết: “Dĩ nhiên là có những anh công an khu vực, công an măïc đồng phục (sắc phục) hay họ mắc đồ bình dân. Nhưng mà tôi nghĩ công việc chúng tôi làm rất là trật tự, ôn hòa, không có gì gọi là trái pháp luật Việt Nam. Chúng tôi có nói với những người trật tự ở đây là tại sao chúng tôi làm việc này và với mục đích gì, có nghĩa là để ghi nhớ và tưởng niệm 58 chiến sĩ của QL/VNCH đã hy sinh tại Hoàng Sa năm 1974 và 64 chiến sĩ của Quân Đội Nhân Dân VN đã hy sinh vào năm 1988. Những người con ưu tú này đã nằm xuống với mục đích duy nhất là bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ , lãnh hải của VN. Thứ hai là chúng tôi tiếp nối công việc làm của các nhà yêu nước khác như là anh Điếu Cày, nhà báo Huy Đức, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, Ls Lê Thị Công Nhân và chị Phạm Thanh Nghiêm,v,v...”.

    Xuyên qua đoạn phỏng vấn đại đa số nhận định, với những sự việc xẩy ra một cách công khai và dù trực tiếp hay gián tiếp đảng viên Việt Tân cũng được sự ủng hộ của những công an, an ninh tại hiện trường. Điều này chứng tỏ CSVN đã “giác ngộ” quay về với chính nghĩa dân tộc để cùng nói lên tinh thất bất khuất bảo toàn lãnh thổ mà đảng việt Việt Tân thực hiện. Riêng điểm này đã làm nhiều người băn khoăn không dám tin là sự thật, nó tựa như một phép lạ, bởi lẽ với bản chất vong nô, hèn nhược, dã man của CSVN, không thể nào có sự “giác ngộ đột xuất” quái đản như thế này. Hơn nữa, Việt Tân là một thế lực đã bị CSVN lên án, mệnh danh là một loại khủng bố, nhưng tại sao họ vẫn ủng hộ, lắng nghe lời giải thích và hiểu được cái “tình yêu nước nồng nàn” qua sự việc? Một điều mâu thuẫn hơn nữa, khi đảng viên Việt Tân này giải thích với những nhân viện trật tự ( chắc chắn là công an) rằng: “chúng tôi tiếp nối công việc làm của các nhà yêu nước khác như là anh Điếu Cày, nhà báo Huy Đức, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, Ls Lê Thị Công Nhân và chị Phạm Thanh Nghiên, v, v...”. Nhưng họ vẫn lắng nghe không có phản ứng gì, trong khi đó ai cũng biết những nhân vật được nêu tên như trên đều đã hoặc đang bị giam cầm trong ngục tù, riêng cô Phạm Thanh Nghiên lại càng rõ ràng hơn, lý do cô bị tù chỉ vì mặc một chiếc áo và đội cái nón tương tự. Do đó đa số nghi ngờ rằng, có thể đây là một vở tuồng hoả mù hai bên đều có lợi, đánh bóng chiêu bài “yêu nước” của Việt Tân và “giác ngộ” của CSVN. Đồng thời tập trung dư luận để đánh lạc hướng những việc khác quan trọng hơn.

    Cũng trong cái nhìn nêu trên, đa số đã thấy được rất nhiều điều mâu thuẫn. Thứ nhất, tại sao đảng Việt Tân bày tỏ và khích động tình “yêu nước” đến người dân bằng hành động công khai thì được thong dong, tự do, còn lại những người khác chỉ thể hiện bằng lời nói hay giấy mực thì lại bị kết án “chống phá nhà nước CSVN” theo điều 88 để bị ngồi tù. Thứ hai, những người như Ls Lê Quanh Định; Ông Trần Anh Kim hay Nguyễn Tiến Trung đều bị kết án, ở tù chỉ vì liên lạc hay tham gia Việt Tân (Liên lạc với đảng phái, tổ chức có âm mưu lật đổ chính quyền CSVN). Trong khi đó đảng viên Việt Tân từ nước ngoài về hành động công khai thì lại đưọc “thông cảm” tự do. Thứ ba, những người dân tại Hànội đã thoát khỏi sự sợ hãi trước sự tàn bạo của đảng CSVN, hay những người naỳ đã được đảng “bật đèn xanh” nên họ thản nhiên nhận áo mũ và vui vẻ mặc tại chỗ, chụp hình lưu niệm với người phân phát...

    Với những phân tích trên, đa số nhận định, nếu thực sự như lời đảng viên Việt Tân trong cuộc phỏng vấn, thì đây là một điểm rất mừng cho quê hương, vì CSVN đã giác ngộ, biết quay về với chính nghĩa của dân tộc, và tất cả những người đang bị cầm tù như nhà báo Điếu Cày, thầy giáo Vũ Hùng, ông Trần Anh Kim, Ls Lê Công Định, anh Nguyễn Tiến Trung, nhà văn trần Khải Thanh Thủy, cô Phạm Thanh Nghiên chắc chắn sẽ được phóng thích và được tuyên dương là những chiến sĩ yêu nước.

    Bằng ngược lại, thì đây chỉ là những hư cấu, tạo tấm bình phong lừa bịp, hầu che đậy những khuất lấp của cả hai bên. Ngoài ra, cũng có thể là một trận hoả mù, tập trung dư luận, để dư luận quên đi những hành xử hèn nhược đốn mạt, buôn dân, bán nước cuả CSVN đang xẩy ra.

    * Phạm Thanh Phương (Úc Châu)


    Ghi chú:

    [1] Số chiến sĩ Hải quân VNCH hy sinh tại Hoàng Sa năm 1974 là 74 người, không phải 58 người như đảng viên Việt Tân cho biết trong cuộc phỏng vấn.

    [2] http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/From-ha-noi-viettan-members-affirm-vietnam-s-sovereignty-interview-a-participant-NKhanh-03152010122810.html?searchterm=None

    Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

    Lịch sử Việt Nam là một tranh đấu sử, với một ngàn năm bị đô hộ bởi giặïc Tầu, một trăm năm Pháp thuộc và hơn nửa thế kỷ chống CS. Hình ảnh người Phụ Nữ Viêt Nam luôn luôn chiếm một vị thế ưu việt của từng góc cạnh, từng giai đoạn trên dòng lịch sử. Trong bất cứ giai đoạn thăng trầm nào của đất nước, người Phụ Nữ Việt Nam vẫn phát huy được dầy đủ ý nghĩa chữ Tòng trong văn hoá truyền thống. “Tại gia tòng Phụ”, khi xuất giá thì tòng Phu trong quan niệm “Nhất tâm, lưỡng thể”. Họ luôn luôn phải bập bềnh men theo dòng lịch sử, tận hiến cuộc đời, chia sẻ cùng chồng, con tất cả những trăn trở, ưu tư của cuộc sống và giúp chồng, con được làm tròn bổn phận với quê hương, dân tộc....

    Nghìn xưa phận liễu một chữ tòng
    Thăng trầm vinh nhục với núi sông
    Cuộc sống chông gai hay nhung lụa
    Em luôn chia sẻ hết cùng chồng

    Sau khi đất nước bị chia đôi (1954), người phụ nữ miền Bắc phải ép mình trong muôn ngàn gian khổ, nhục nhã dưới bạo quyền CS qua hàng loạt những chiêu bài “Đảm đang, sẵn sàng ‘ để phục vụ Đảng trong mọi lãnh vực, mọi hình thức kể cả những lãnh vực bẩn thỉu nhất và ô nhục nhất của nhân loại... Trong khi đó, người Phụ Nữ miền Nam tuy rất được trân trọng, nhưng cũng không kém nặng nề khó khăn... Ngoài thiên chức làm mẹ, họ phải kiêm nhiệm luôn vai trò người cha và chung thủy với bổn phận làm vợ, hy sinh hạnh phúc cá nhân để chồng, con được an tâm làm tròn nghĩa vụ bảo Quốc, an dân của một thời binh lửa đưa đến từ bản chất vong nô đầy thú tính của CSVN...

    Vào ngày binh lửa khắp non sông
    Em ngăn dòng lệ tiễn chân chồng
    Chăm sóc con thơ cho thành đạt
    Muôn đời câu tiết hạnh khả phong

    Xuôi theo cơn ngặt nghèo vận nước (1975), người Phụ Nữ miền Nam Việt Nam lại được quăng vào một khoảng không, một hoàn cảnh ngỡ ngàng. Đất nước đã im tiếng súng, nhưng những nụ cười đoàn tụ chưa kịp nở thì dòng lệ ly cách lại trào tuôn, cuộc đời đau khổ lại càng đau khổ hơn, lớp lớp chất chồng như những đợt sóng oan khiên phủ lên đời người. Lúc ấy, người Phụ Nữ miềm Nam Việt nam phải đối điện với tất cả những thủ đoạn lưu manh, lọc lừa và bạo lực từ những con thú đội lốt người. Họ phải vận dụng tất cả khả năng tồn đọng, luồn lọt để sống còn, đợi chờ và ngược xuôi bương trải nuôi con. Chắt chiu từng đồng, trèo đèo vượt suối thăm chồng, thăm con nơi rừng thiêng nước độc với mỹ danh “cải tạo”... Để rồi, người nào may mắn có được giây phút đoàn tụ thì vẫn tiếp tục đắng cay, tủi hờn theo vận nước...

    Ngày nay, tuy mang tiếng là đất nước thanh bình, nhưng dưới chế độ phi nhân CSVN, người phụ nữ đã trở thành “Con gà đẻ trứng vàng” để chế độ khai thác... CSVN cố tạo ra những đói rách, tan hoang, trực tiếp hay gián tiếp ép phụ nữ vào con đường băng hoại một cách khéo léo... CSVN cố gắng tìm mọi cách đổ lỗi do hoàn cảnh đẩy đưa cuả một thời hậu chiến. Nhưng nếu đi sâu vào thực chất, có lẽ không ai có thể phủ nhận CSVN mới chính là những tên đầu nậu của thời cuộc, “đảng” đã tạo ra hoàn cảnh khó khăn, để có cơ hội bóc lột trên những băng hoại đau khổ của người Phụ Nữ Việt Nam một rất tự nhiên... Dưới một xã hội bát nháo, dân tình đói rách, giáo dục suy đồi, đạo đức băng hoại, biết bao nhiêu trò điếm nhục xuất hiện đã được sự bảo kê của mọi tầng lớp cán bộ tuỳ theo lãnh vực, mà nạn nhân là những phụ nữ ngây thơ chân yếu, tay mềm. Với chiêu bài xuất cảng lao động sang các nước láng giềng, trong chính sách đem con bỏ chợ, người Phụ Nữ Việt Nam đã trở thành một vật tiêu khiển, mặc sức cho thiên hạ giày xéo, bóc lột, ngược đãi...Thậm chí đến những em bé tuổi mới lên 5, 6, cũng không thoát khỏi nanh vuốt của đảng với chiến dịch “xuất cảng” gián tiếp hàng loạt sang Căm Bốt và các nước lân bang với “chức năng” nô lệ tình dục. Sự kiện này đã kéo dài qua nhiều thập niên và tiếp tục cho đến hôm nay để nhân loại phải nhỏ những giọt lệ xót xa trăn trở.

    Ngoài ra, còn biết bao nhiêu cảnh đời đen tối trong chiến dịch lấy chồng Đại Hàn, Trung Cộng, Đài Loan,v,v,... Tất cả đều biết, sau khi theo chồng ra xứ ngoài, họ có thể trở thành những kẻ ở đợ không công, hay bị bán vào lầu xanh, hoặc trở thành nô lệ tình dục cho một nhóm người nào đó. Tuy vậy, với cuộc sống quá nghèo khổ, bữa đói bữa no, cha già, mẹ yếu, nhà dột, cột xiêu, và cũng nhiều trường hợp vì chữ hiếu, chỉ mong kiếm chút đỉnh để lại cho gia đình hy vọng có thể sống còn đi nốt cuộc đời còn lại để vo tròn đưọc cái nghĩa thống khổ, thương đau. Nên cuối cùng chẳng còn cách nào hơn “Cũng liều nhắm mắt đưa chân. Để xem con tạo xoay vần đến đâu”...

    Trong xã hội, tham nhũng, bóc lột, sinh ra đói rách đi đến băng hoại, đám lãnh đạo hợp tác cùng đám “Đồng chí ngoại vi” xã hội đen đưa đẩy và dụ dỗ phụ nữ vào con đường nhơ nhớp, hết “phục vụ” khách ngoại quốc qua chiêu bài “hữu nghị”, lại đến các tụ điểm bia ôm, ngủ trưa ôm và tệ hơn nữa là rải rác đón khách trên các công viên, đầu đường xó chợ. Cuộc sống thiếu thốn cả lãnh vực vệ sinh, ø để rồi đến khi bệnh hoạn lại không thuốc chữa..ï. Bọn Cán Bộ Đảng chia nhau vơ vét, bóc lột, rồi lại dùng những đồng tiền hôi tanh ấy, quay lại dầy xéo thân thể như cô gái đáng con, cháu, mình mà lấy làm đắc chí với “Đỉnh cao trí tuệ”...

    Đây chính là “Tư Tưởng Hồ Chí Minh” để lại, mà lũ hậu duệ đang ra sức học tập... Đó chính là mô hình “Hợp tác xã”... Giang Sơn, đất nước cũng được coi như “Hợp tác xã” ai muốn khai thác hay buôn bán tùy ý, miễn là đảng có tiền bỏ túi. Bằng chứng cho thấy một phần đất, biển đã bị mất một cách tức tưởi đếm nhục, một số tỉnh phía Bắc cho Trung cộng mướn dài hạn, như vậy thử hỏi nhân phẩm phụ nữ có đáng gì để CSVN quan tâm...

    Tuy hoàn cảnh thực tại đã quá rõ rằng, nhưng hàng năm CSVN vẫn luôn trơ trẽn tổ chức ngày Phụ Nữ 8-3 một cách rầm rộ, đề cao Phụ Nữ theo cái kiểu “Xúi trẻ ăn cứt gà” của Hồ Chí Minh để lại, nghĩa là giải phóng phụ nữ ra khỏi hình ảnh kiều diễm truyền thống văn hóa dân tộc, thay thế vào đấy một hình ảnh “Hợp tác xã” bầy hầy, nhơ nhớp và được che đậy bằng bốn chữ “Duyên Dáng Việt Nam” để tiếp tục bóc lột trên xương máu của họ như tên ma cô Nguyễn Minh Triết đã từng tuyên bố mời gọi đầu tư nước ngoài bằng chiêu bài “Đất nước Việt Nam chúng tôi có rất nhiếu gái trẻ đẹp”... Như vậy phải chăng chế độ CSVN chỉ là một “Ổ Chứa Đại Đồng” và Trung Ương đảng CSVN là những tên ma cô thuần thành đầy đủ chức năng nghiệp vụ. Ôi! một đất nước oai hùng bất khuất với hình ảnh của người phụ nữ yêu kiều, duyên dáng đáng trân qúy của dòng lịch sử nay còn đâu...

    Từ độ xuân về cơn quốc biến
    Miền Nam tức tưởi, bóng hư vô
    Bầu trời xám dục, dòng huyết lệ
    Uất nhục “văn minh” kiểu lão “Hồ”

    Hôm nay, nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc Tế Phụ Nữ (8-3), viết những lời này thay cho những tiếng thét căm hờn quyện trong những giọt nước mắt đầy tủi nhục, để mong có thể chia sẻ với tất cả những người chị, người em Việt Nam cuả chúng ta một phần nào những thống khổ, thương đau, uất nhục trong cái vũng lấy tăm tối của nhân loại, và xót xa cho cả dân tộc đang thoi thóp trên mảnh Quê Hương đã qúa thừa khốn khổ, đau thương...

    Sau cùng, kính nguyện anh linh tổ tiên cùng hồn thiêng Sông Núi, xin soi sáng cho tất cả những tâm hồn bệnh hoạn đang kẻ lầm đường, chệch hướng, biết thức tỉnh, quay về với chính nghĩa dân tộc trong công cuộc đấu tranh chung, đòi tự do, dân chủ, để người dân Việt có được những ngày an vui, thảnh thơi và nhân phẩm Phụ Nữ Việt Nam được tiếp tục thăng hoa và trân qúy như truyền thống ngày nào trên dòng lịch sử Việt Nam

    * Phạm Thanh Phương (Úc Châu)


    Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

    Trong thời gian gần  đây, sự kiện CSVN ký hợp đồng để  Đài Loan, Hồng Kông và Trung cộng thuê 300 ngàn Hecta thuộc10 tỉnh phiá Bắc đã tạo lên một làn sóng dư luận khá xôn xao trong và ngoài nước. Trong đó, hầu như đa số tập trung vào sự lên tiếng cuả hai nhân vật Nguyễn Trọng Vĩnh và Đồng Sĩ Nguyên, những người được mệnh danh là “Nhà Cách mạng lão thành”, và từng là Ủy viên Trung ương Đảng CSVN. Nói về sự lên tiếng của hai nhân vật “Cách mạng lão thành” này cũng có hai chiều hướng nhận định khác nhau, một số cho đây là một màn kịch tung hứng hầu giảm bới sự phẫn nộ trong dư luận của toàn dân. Ngược lại, số khác cho rằng đây là những nhân vật yêu nước, tiếng nói của họ là tiếng nói của nhịp tim, đang thổn thức thở dài theo vận nước nổi trôi bởi sự vong nô hèn nhược từ bè lũ lãnh đạo CSVN.  Trải qua hơn 30 năm, kể từ ngày CSVN “thống nhất” lãnh thổ 30-4-1975, cả một dân tộc đã “được” vùi sâu trong vũng lầy nhơ nhớp của nhân loại trong màn đêm tam tối nhẫn nhục. Tuy nhiên, trong khoảng một thập niên gần đây, những tiếng nói phản kháng đã xuất hiện từ một số nhà “Cách mạng lão thành” như Trần Độ, Võ Nguyên Giáp, Võ Văn Kiệt, và đến nay là Nguyễn Trọng Vĩnh và Đồng Sĩ Nguyên. Mỗi lần họ lên tiếng là một lần dư luận ngạc nhiên, ồn ào, trong đó có cả những ca tụng, tâng bốc, thậm chí tôn vinh những nhân vật này như những tâm hồn yêu nước đặc biệt, rất tha thiết với quê hương, dân tộc. Khi một người trong họ qua đời, cũng có kẻ còn làm lễ truy điệu họ như những anh hùng vị quốc vong thân mới là điều khó nghĩ. Nếu những sự kiện này được đảng và nhà nước CSVN thực hiện thì cũng chẳng có gì đáng nói, nhưng rất tiếc trong cộng đồng người Việt tỵ nạn cũng có một số người thổi phồng một cách rất ồn ào mới là một điều cần suy nghĩ. Một số câu hỏi được đặt ra là những nhân vật này có thực sự yêu nước thương dân không, hay họ chỉ là những diễn viên của một vở tuồng tung hứng do CSVN đạo diễn, hầu có thể chứng tỏ CSVN cũng có dân chủ, có tự do ngôn luận. Đảng và nhà nước tuy độc tài, tàn ác, dã man, nhưng vẫn sẵn sàng lắng nghe và tôn trọng những tiếng nói dị biệt, những “bất đồng chính kiến” hay “phản hồi’ về những hành xử của CSVN trong chính sách đối nội cũng như đối ngoại ???  Một vấn đề khác được đại đa số nêu ra là những nhân vật này lên tiếng có đúng lúc để thay đổi hoàn cảnh, hay chỉ là một sự vuốt đuôi khi sự kiện đã rơi trong hoàn cảnh “Ván đã đóng thuyền” ???... Nếu nói rằng họ là những người biết yêu nước thương dân, thì tại sao họ lại không thương lúc đang đương quyền tại vị mà phải đợi đến khi về hưu, không còn quyền lực mới lên tiếng, để rồi kết qủa những sự lên tiếng ấy cũng chỉ nằm trong cái cảnh “Đấm bùn sang ao” chẳng có chút ảnh hưởng nào đến thời cuộc hay sự việc. Những việc họ nói không phải là những gì người dân không biết, người dân biết rất rõ, nhưng không dám lên tiếng bởi những tàn bạo, dã man mà CSVN luôn đe dọa mạng sống của họ. 

    Nhìn vào sự kiện CSVN cho Đài Loan, Hồng Kông và Trung cộng thuê 300 ngàn Hecta đất, tất nhiên có thể thấy được một sự đồng bộ, tựa như những nhạc công đang hoà tấu một nhạc khúc rất nhịp nhàng, lên xuống theo chiếc đũa của người nhạc trưởng. Đa số lý luận rằng, việc cho thuê 300 ngàn Hecta đất không phải là một chuyện nhỏ, nó không phải một sự lạm quyền, cướp một vài mảnh đất của người dân làm của riêng, để cho rằng do địa phương làm bậy. Ngược lại, đây là vấn đề mang tính đại sự, không thể nói rằng trung ương không biết, mà chắc chắn là do chính sách từ trung ương, hay cũng có thể đảng và nhà nước đang đáp ứng sự đòi hỏi từ quan thầy Trung cộng trong chiến thuật xâm lăng hợp pháp và hợp lý qua chiêu bài “hữu nghị” với “quyền lợi song phương” nào đó. Như vậy, đã gọi là những nhà “Cách mạng lão thành” quan tâm, tha thiết đến đất nước tất nhiên họ phải biết sớm hơn dân, biết để lên tiếng ngăn chặn ngay từ khởi điểm vì họ là những nhà “Cách mạng lão thành”, dù về hưu nhưng bạn bè, tay chân vẫn còn trong Trung ương đảng và các nơi trong guồng máy cai trị. Nhưng rất tiếc hai nhân vật Nguyễn Trọng Vĩnh và Đồng Sĩ Nguyên cũng chỉ lên tiếng khi “gạo đã nấu thành cơm”“ván đã đóng thành thuyền”. Tuy vậy, sự lên tiếng này cũng được Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng CSVN lắng nghe và thi hành với công văn số 405/TTg-KTN, chỉ đạo “không cấp giấy giấy phép đầu tư và không ký tiếp hợp đồng cho thuê đất trong một thời gian tới”. Câu văn “một thời gian tới” là thời gian nào không ai có thể xác định, và như thế thì 300 ngàn Hecta đất kia nằm trong một sự đã rồi. Hơn nữa, từ nay đến “một thời gian tới” kia sẽ còn cho muớn thêm bao nhiêu đất nữa thì cũng không ai biết. Như vậy, phải chăng sự lên tiếng và bản công văn của Nguyễn Tấn Dũng chỉ là một trò tung hứng với hai mục đích. 
    Thứ nhất, sự tung hứng nhằm chứng minh CSVN dù là một đảng vong nô, hèn nhược bán nước, hại dân, cướp của giết người như một loài thú. Tuy nhiên, vẫn có những tâm hồn “yêu nước thương dân”, vừa giết dân vừa thương dân, vừ bán nước vừa yêu nước. Nhưng rất tiếc, giết dân rồi mới thương dân, bán nưóc rồi mới bày tỏ lòng yêu nước, như vậy đây có phải đây là chiến thuật “Nước vỏ lựu, máu mào gà” mà Tú bà đã dạy cô Kiều của cụ Nguyễn Du xưa kia hay không? Câu trả lời xin để độc giả suy xét tìm hiểu.  
    Thứ hai, sự kiện tung hứng này chứng tỏ dưới chế độ độc tài toàn trị vong nô CSVN vẫn tôn trọng tự  do ngôn luận và ý thức. Bằng chứng khi hai nhân vật “lão thành cách mạng” vừa lên tiếng, lập tức Thủ tướng ra công văn đình chỉ ngay. Trường hợp này chưa từng xẩy ra với bất cứ ai, dù đó là những đóng góp rất chính đáng như “Viện Nghiên Cứu Khoa Học”. Ngược lại còn ra nghị định 79 bịt miệng họ, để họ thất vọng phải tự  ý giải thể. Một điều khó hiểu là tại sao biết bao nhiêu người cũng tỏ lòng yêu nước, lên tiếng về sự tồn vong của đất nước giống như hai “nhà cách mạng lão thành” Nguyễn Trọng Vĩnh và Đồng Sĩ Nguyên thì lại họ được hồi đáp bằng nhà tù với những bản án mơ hồ cưỡng từ đoạt lý như trường hợp của Ls Lê Công Định, Thầy giáo Vũ Hùng, Blogger Điếu Cày, cô Phạm Thanh Nghiên,v,v... Như thế, đây có phải là một vở tuồng tung hứng hay không, trong mỗi người Việt Nam chúng ta đã có câu trả lời. 
    Nếu nói rằng không phải là một vở tuồng tung hứng, thì chẳng lẽ chỉ có những kẻ đã từng “dầy công hãn mã” trong “sự nghiệp” bán nước hại dân, hay cướp của giết người của CSVN mới có quyền yêu nước, thương dân hay sao??? Ngược lại, nếu cho rằng đây là một vở tuồng tung hứng thì thiết nghĩ người Việt tỵ nạn CS cũng không nên ca tụng, tung hô, mà chỉ nên coi đó là một hiện tượng, một bản tin để suy gẫm.  
    Tóm lại, trong hoàn cảnh đấu tranh của toàn dân hiện nay, trong cái thế vàng thau lẫn lộn, tất cả nên bình tĩnh suy xét. Hiện tượng chỉ là hiện tượng, hiện tượng có thể thể hiện bản chất và cũng có thể chỉ dùng che đậy bản chất trong một mục đích nào đó, Do đó, sự cẩn trọng không có nghĩa là đánh mất niềm tin, mà ngược lại dùng củng cố niềm tin, hầu có thể tránh được những thái quá và bất cập với bất cứ hiện tượng nào và trong bất cứ tình huống nào. Đồng thời có thể tránh được những lực cản hay sự tác hại đến công cuộc đấu tranh chung đi tìm dân chủ, tự do cho quê hương. 



  • Phạm Thanh Phương (Úc Châu).



  • -Phạm thanh Phương-


    Theo tin RFA, ngày 23-2-2010 vừa qua, trong một cuộc gặp gỡ báo chí đầu năm, Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng CSVN tuyên bố "báo chí cần chủ động thông tin bảo vệ chủ quyền". Với câu nói này, một số người cho rằng đây là một hiện tượng bất thường, nó gần như một thông điệp gởi đến báo giới, báo hiệu một sự cởi trói, thành lập một hệ thống thông tin tự do, nhằm nâng cao dân trí, phát triển con người và đất nước. Đồng thời đây cũng là một chỉ dấu chứng tỏ tập đoàn CSVN có chiều hướng giác ngộ đối với quốc gia, hoà giải dân tộc hầu có thể “canh tân” và phát triển một Việt Nam hùng mạnh trong xu thế tiến bộ toàn cầu. Ngược lại đại đa số lại cho rằng, câu nói của Nguyễn tấn Dũng chỉ là một trò bịp quá cũ, nó chẳng đáng gì để quan tâm “Hồ hởi, phấn khởi” luận bàn.

    Nếu nhìn kỹ vào hoàn cảnh đất nước, những vấn đề vấn đề liên quan đến chủ quyền đã quá sáng tỏ, không còn gì để báo chí “cần chủ động thông tin”. Và nếu có những điều mới mẻ liên quan đến chủ quyền đất nước mà người dân cần biết sớm, thì một câu hỏi nên đặt ra ở đây là “biết để làn gì”. Nam Quan- Bản Giốc- Hoàng Sa- Trường Sa được coi như đã yên vị trong tay Trung cộng, biển đông cũng đã xong. Hiên tại, chắc chắn Trung cộng sẽ không cần dùng đến vũ lực đánh chiếm bất cứ điều gì trên đất nước Việt Nam, họ đã có cả một tập đoàn lãnh đạo CSVN làm tay sai, nên họ dùng một phương pháp khác tinh vi hơn, tế nhị hơn và hợp lý hơn. Chính sách này được gọi là “Xâm Lăng Hữu Nghị”. Bằng chứng cho thấy trong những ngày đầu xuân Canh Dần, hiện tượng cho Trung cộng mướn đất dài hạn đã được thực hiện tại một số tỉnh miền Bắc. Một khi đã có hợp đồng thuê mướn, tất nhiên những nơi đó sẽ trở thành những vùng tự trị của Trung cộng mang tính “bất khả xâm phạm” đối với người Việt Nam. Từ đó, một cuộc xâm lăng rất nhẹ nhàng và hợp pháp trên một số bình diện như kinh tế, văn hoá, chính trị sẽ phát triển nhẹ nhàng như một vết dầu loang, để rồi đất nước Viện Nam từ từ bị đồng hoá lúc nào không ai biết. Đây mới chính là dã tâm thâm độc nhất của Trung cộng và CSVN. Vì thế đại đa số đu luận đã cho rằng lời tuyên bố của Nguyễn Tấn Dũng cũng chỉ là một sự bịp bợm, sự bịp bợm này cũng dùng làm động lực tạo cơ hội cho những tên văn nô, ký nô và bọn việt gian, nằm vùng tại hải ngoại thổi phồng, tạo trận hoả mù, ru ngủ ý thức đấu tranh đòi quyền tự quyết của dân tộc.

    Nếu cho rằng câu tuyên bố "báo chí cần chủ động thông tin bảo vệ chủ quyền" là một sự giác ngộ cuả CSVN, thì hãy nhìn vào bối cảnh hiện tại để thấy được đã có biết bao nhiêu “nhà đấu tranh dân chủ” phải ngồi tù cũng chỉ vì đưa tin, hay bộc lộ sự uất nhục trong việc bảo vệ chủ quyền đất nước. Bằng chứng cho thấy ông Nguyễn Trung Dân, Tổng Biên Tập báo Du Lịch đã bị rút thẻ nhà báo và kéo theo mất chục nhân viên thất nghiệp cũng chỉ vì thông tin đúng lúc hiện tượng chủ quyền quốc gia bi Trung cộng xâm phạm, cước bóc. Như vậy, lời nói của Nguyễn Tấn Dũng có gì đáng tin tưởng “ hồ hởi, phấn khởi” luận bàn.

    Riêng hoạt động báo chí trong nước, có lẽ không ai có thể phủ nhận tất cả chỉ là cộng cụ tuyên truyền của đảng, họ chỉ được đưa tin theo quy định, cho dù những nguồn tin ấy có trái với lương tâm chức nghiệp. Báo giới muốn sống còn, đương nhiên họ phải gói kín lương tri, tự biến mình thành loại văn nô, ký nô thuần thành. Ngược lại, nếu không cẩn thận, chẳng may chệch ý đảng một tí, thì chắc chắn sẽ được ngồi tù hoặc giải nghệ, mặc dù sự chệch ý ấy chỉ là một phần rất nhỏ của sự thật, nhất là đối với những vấn đề được gọi là b như Hoàng Sa, Trường Sa, Trung cộng khoanh vùng biển đông, ngăn cấm ngư dân Việt Nam đánh cá ngay trên chính lãnh hải của Việt Nam.

    Nếu nói rằng CSVN đã giác ngộ, cần nới rộng tự do báo chí, khuyến khích "báo chí cần chủ động thông tin bảo vệ chủ quyền", thử hỏi những người đang “thọ án” trong tù như cô Phạm Thanh Nghiêm, Thầy giáo Vũ Hùng và còn rất nhiều Blogger khác thì tính sao đây, họ có tội gì? Hay họ đã thực thi lời kêu gọi của Nguyễn Tấn Dũng, thực hiện sự "chủ động thông tin bảo vệ chủ quyền". Như vậy, lời nói của Nguyễn Tấn Dũng mang ý nghĩa gì ? Nó có phải là một sự quan tâm đến sự tồn vong của đất nước hay là một lời cảnh cáo, răn đe báo chí cần chủ động “thông tin đúng quy định”, đừng để đảng và nhà nước phải nhắc nhở, hay dùng biện pháp nặng nề... Như vậy, một khi báo chí được quyền "chủ động thông tin bảo vệ chủ quyền" đến người dân biết, nhưng “biết để làm gi?” hay vẫn tiếp tục bị bịt miệng, trói não, ngăn cấm tư duy như đã và đang bị từ xưa đến nay.

    Trước bối cảnh ngặt nghèo của tổ quốc do sự vong nô, hèn nhược của CSVN tạo ra, vấn đề then chốt không phải “báo chí cần chủ động thông tin bảo vệ chủ quyền" đến người dân, mà đưa tin đến cho người dân “biết để làm gì” mới là điều quan trọng. Một khi dân biết, họ có quyền hành động phản kháng, chống đối không, hay biết chỉ để ngậm đắng nuốt cay trong uất nhục, và tập đoàn lãnh đạo CSVN vẫn tiếp tục chạy sang Bắc Kinh tung hô “tinh thần bốn tốt và mưới sáu chữ vàng” với quan thầy Trung cộng một cách kính cẩn trung thành.

    Riêng lãnh vực báo chí tại Việt Nam, nhà văn quốc nội Trần Mạnh Hảo nhận định:

    “Ngay trên các blog trong nước thì người ta cũng đã có những bài viết cấm không cho người dân phát biểu ý kiến cũng như gần 700 tờ báo không được phát biểu ý kiến, sơ xẩy một tí là vi phạm pháp luật. Đấy là một cách họ cấm đoán không cho tự do báo chí, không cho ai phê bình mình. Độc quyền hành động mà không có ai phê phán thì làm sao tiến bộ được?”.
    Cũng trong vấn đề này nhà văn Trần Mạnh Hảo nhận định thêm

    “Kiểm soát báo chí chưa đủ, nhà nước còn vươn tay đến những trang blog có các bài viết được xem là nhạy cảm. Việc cấm đoán các trang blog này đã dấy lên làn sóng phản đối tuy âm thầm nhưng rất rộng rãi. Người viết blog cảm thấy bị xâm phạm, mặc dù họ chỉ viết những điều rất riêng tư và không dính dáng gì đến sự lo ngại của nhà nước”.
    Nhìn lại chỉ trong thời gian một năm qua, liên quan đến thông tin về tệ nạn tham nhũng và chủ quyền đất nước, tất cả cũng đã có sáu cơ quan báo chí bị cảnh cáo, 252 trường hợp bị khiển trách, 15 nhà báo bị thu thẻ hành nghề, trong đó có 2 Tổng Biên tập, 4 phó Tổng Biên tập, 6 nhà báo bị khởi tố, 2 nhà báo vào tù. Như vậy không hiểu lời nói của Nguyễn tấn Dũng có thể tin được là một thiện chí hay không? Có lẽ trong mỗi chúng ta, ai cũng đã có câu trả lời chinh xác.

    Cũng trong vấn đề báo chí, hôm thừ Ba 16-2-2009, Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả, trụ sở tại New York, Hoa Kỳ, đã công bố bản phúc trình hàng năm tựa đề "Những Cuộc Tấn Công Báo Chí Năm 2009", nội dung nói về tình hình đàn áp báo chí trên khắp thế giới trong đó có Việt Nam. Riêng tại Việt Nam, Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả cũng cho biết rất nhiều phóng viên và bloggers phổ biến quan điểm của họ, nhất là những quan điểm bày tỏ lòng yêu nước và sự quan ngại đến chủ quyền của Việt Nam đang bị xâm lăng do sự hèn nhược của tập đoàn lãnh đạo CSVN, tất cả đều đã bị sách nhiễu, thẩm vấn, bỏ tù. Điển hình mới nhất là truờng hợp cô Phạm Thanh Nghiêm với bản án 4 năm tù giam và 3 năm quản chế, mà tất cả thế giới đều ngạc nhiên xúc động.

    Ngoài ra một số trường hợp bị khống chế, khủng bố, bắt bớ khác cũng không ngoài những đau xót khi nhìn thấy viễn cảnh đất nước đang bị mất dần trong tay ngoại bang như trường hợp nhà báo Trần Thanh Hiếu, Blogger “Người Buôn Gió”; Phóng viên Phạm Đoan Trang VietNamnet; Blogger "Mẹ Nấm" Nguyễn Ngọc Như Quỳnh; Blogger Bút Thép; Blogger “Điếu Cày” Nguyễn Văn Hải,v,v... Ngoài ra tất cả những trang Web nào nhắc đến chủ quyền đất nước, thì hầu như đều bị phá hỏng hoặc ngăn cấm người dân truy cập, tìm hiểu. Như vậy, khi Nguyễn tấn Dũng tuyên bố "báo chí cần chủ động thông tin bảo vệ chủ quyền" là mong cho tất cả người dân Việt nam biết nguy cơ của đất nước chỉ là một trò hề, bịp bợm một cách quá ấu trĩ và rẻ tiền từ bản chất lưu manh, bịp bợm của CSVN mà thôi.

    Tóm lại, với những dẫn chứng nếu trên, hy vọng có thể làm sáng tỏ một phần nào qua câu tuyên bố bịp bợm của Nguyễn Tấn Dũng. Đồng thời mong rằng toàn dân Việt Nam sẽ có một cái nhìn chính xác hơn trước hiện tình đất nước, tránh được những trận khói mù từ CSVN và Việt gian tạo ra, để cò thể Kiên trì hơn, sáng suốt hơn trên con đường đấu tranh đòi lại quyền tự quyết của dân tộc. Đất nước là của chung tất cả mọi người Việt Nam, không thể dành riêng cho bè lũ vong nô hèn nhươc CSVN thao túng. Những luận điệu

    “CSVN đã ý thức, giác ngộ để bảo vệ chủ quyền. Chúng ta hãy vì công việc chung của đất nước, nối kết, giao lưu tạo sức mạnh để cùng bảo vệ và “canh tân”. Xoá bỏ cờ Vàng để có thể nối kết với lực lượng du sinh hầu tạo sự đoàn kết đi đến một niềm tin chung, một ý chí chung,v,v...”.
    Tất cả đều là sự lừa bịp của bè lũ Việt gian, đang tiếp tay cho CSVN thực hiện mưu đồ buôn dân, bán nước một cách nhe nhàng mà thôi.

    * Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

    -Phạm Thanh Phương (Úc Châu)-

    Chờ đợi trong nôn nóng, băn khoăn, trăn trơ, lo âu, rồi những ngày xuân cũng phải trôi đi theo thời gian. Tuy vậy, dư vị của ngày xuân vẫn còn tồn đọng và những buồn phiền, lo lắng, băn khoăn tiếâp tục cuộc hành trình trên dòng đời. Riêng về sinh hoạt xã hội, ngoài giai tầng cán bộ các cấp và một số người làm ăn khá giả, có lẽ hương xuân vẫn còn man mác đâu đó, kể cả vật chất lẫn tinh thần của họ. Còn lại, đại đa số người dân thì tất cả những trăn trở lo âu, bương trải chỉ tạm lắng đọng, nín thở để tạm tìm một chít sinh khí trong ba ngày tết để khỏi áy náy với ông bà, tổ tiên , rồi sau đó khi trở lại, càng trở nên khó khăn hơn nữa bởi bị tồn đọng từ ngày tết. Sau tết, thị trường vật giá chưa được ổn định, làm ăn buôn bán khó khăn hơn, thậm chí còn phải thanh toán những nợ nần thiếu hụt của năm cũ, khi muốn có một chút không khí mùa xuân trong gia đình. Đây mới là điều lo lắng, trăn trở của xã hội bình dân.

    Riêng trong những ngày tết, một vài hiện tượng xẩy ra tại một số thành phố lớn như Saigòn, Hà nội,v,v... Câu chuyện “cải tạo hạ tầng cơ sở” tránh lụt bằng cách đào cống, sửa đường của nhà nước CSVN đã được thực hiện ngay trong những ngày sát tết. Sự kiện này cũng tạo ra một số câu chuyện vui buồn ”cười ra nước mắt” trong sinh hoạt xã hội và liên quan đến cả phần tâm linh. Theo một số tin trong nước cho hay, một số con đường lớn đã đuợc đào lên để kiểm tra sự “ùn tắc” của hệ thống cống. Chỗ này đào lên, chỗ kia lấp lại, cũng chẳng thấy sửa chữa được gì, ngược lại chỉ làm môi sinh thêm ô nhiễm, tạo thêm sự khó thở cho người dân trong những ngày bương trải với xuân. Cũng trong hiện tượng này, theo thói quen của người dân miền Nam, họ thường bày mâm cúng đầu năm với những trái cây như măng cầu, dừa, đu đủ và xoài và đọc trại âm đi là “Cầu Vừa Đủ Xài”, một ước nguyên rất khiêm nhường, mộc mạc đơn sơ, mâm cúng tượng trưng cho lời khấn chỉ “cầu vừa đủ ăn, uống, chi dùng” trong chộc sống, không cần mơ ước xa hoa, nhưng trong xã hội Việt Nam dưới chế độ CS thì dù đơn sơ như vậy có lẽ đã trở thành xa hoa lắm rồi. Riêng trong những ngày tết vừa qua, nhiều nơi bị đào đường lấp hố, khiến thành phố rất nhiều bụi bẩn đến khó thở khi trời nắng và bùn đất bẩn thỉu khi trời mưa. Đồng thời tạo ra rất nhiều trở ngại trong sinh hoạt của ngày tết. Vì vậy, năm nay một số nơi không còn “Cầu vừa đủ xài” nưã, mà họ đã rút gọn lời khấn, với những mâm cúng mang ý nghĩa mới thực tiễn hơn với một bó hành, một qua dưa, một quả dừa. Mân cúng này mang ý nghĩa kêu gọi đảng và nhà nước ơi “Hành vừa vừa thôi”. Thôi thì đói khổ tí cũng chai rồi, bớt hành hạ dân thêm nữa. Cái đau khổ của người dân dưới chế độ CS là khi bị uất ức điều gì, họ cũng chỉ có thể bày tỏ qua sự châm biếm bằng một cách “hợp pháp” như thế thôi. Không thể làm gì khác hơn nếu không muồn đầu xuân được đảng thỉnh đi ngồi gỡ vài cuốn lịch.

    Trong cuộc sống khó khăn của xã hội ViệtNam dưới chế độ CS. Thực tế không thể “khắc phục”, một ngày như mọi ngày, cứ mãi phải lay lứt lê thê, một năm như mọi năm, nó tựa như một chu kỳ tất định và bất biến. Tuy nhiên, ngoài cái chu kỳ tất định đấy đảng và nhà nước vẫn có những đổi mới, mang tính “đột phá” đến độ khủng khiếp, khó có ai có thể ngờ được lại có thể xẩy ra trên thế gian, nhất là trong thế kỷ văn minh tiến bộ hôm nay.

    Duyệt lại những đổi mới của đảng và nhà nước từ thập niên qua, có lẽ không ai có thể phủ nhận đảng và nhà nước mỗi ngày một “sáng suốt hơn” trong đối nội cũng như đối ngoại... Về mặt đối nội, đảng và nhà nước đã khôn khéo quy hoạch loanh quanh để cướp được một số bất động sản từ một số cơ sở Tôn giáo và cá nhân từng địa phương. Phương pháp đàn áp dân cũng tinh vi hơn, không còn dùng lực lượng công an trực tiếp bắn giết như xưa, để phải lộ ra cái thú tính và mang tiếng là dã man trước nhãn quan quốc tế, vì thế đảng và nhà nước đã nghĩ ra thượng sách là cho công an mặc thường phục, liên kết với một đám du đãng đầu trộm, đuôi cướp tấn công hành hung dân như đã từng xẩy ra tại Thái Hà, Bát Nhã, Đồng Chiêm hay đối với “dân oan” khiếu kiện nhà đất... Làm như thế sẽ tránh được tiếng là dã man đểu cáng, nếu quốc tế có trách thì cũng chỉ trách hệ thống trật tự xã hội qúa kém, không đủ sức giữa gìn trật tự an ninh cho xã hội, điều này đảng và nhà nước hứa sẽ “khắc phục” để chuyển hoá sang một hình thức khác tốt đẹp hơn.

    Riêng mặt đối ngoại, đảng và nhà nước CSVN cũng tỏ ra “Trí tuệ” hơn để thực hiện câu tục ngữ “Dĩ Hoà Vi Qúy” rộng rãi hơn.... Vừa có lợi cho đảng mà không sợ thất lễ với quan thầy Trung cộng, dù chỉ là lời nói xuông mang tính đãi bôi.

    Duyệt lại một năm vừa qua, sau khi Trung cộng khoanh vùng biển đông hầu như lấy gần hết lãnh hải của đất nước, nhưng đảng và nhà nước CS VN vẫn một mực kính cẩn tung hô cái tình hữu nghị “mội hở răng lạnh” với tinh thần ”bốn tốt và mười sáu chữ vàng”. Cũng vì vậy trong năm 2009 vừa qua ngư dân Trung cộng đã xâm phạm phần lãnh hải còn lại của Việt Nam là 130 lần, nhưng hầu như đảng và nhà nước ta cũng có lên tiếng chút đỉnh “năn nỉ” dừng vi phạm vậy nữa khó xử lắm. Ngược lại, ngư dân mình lở có vi phạm chút đỉnh, hang bị ghép vào vi phạm lãnh hải của họ thì coi như “Đời tàn trong ngõ hẹp”. Không những mất của còn mất cả mạng, hay ít nhất khi được thả về thì cũng đã trở thành “èo uột khó nuôi”.

    Câu chuyện vất vả với một cái tết chưa xong, người dân lại nhận được một cái tin như sét đánh ngang đầu, khiến những ai quan tâm đến đất nước đều cảm thấy choáng váng, từ người bình dân đến trí thức, kể cả thành phần đĩ diếm ma cô, dù là được liệt kê vào thành phần cặn bã của xã hội. Nhưng rất tiếc thành phần cốt cán trong guồng máy đảng và nhà nước lại cho đây là một sự “đột phá” siêu việt mà có lẽ chỉ có những “Đỉnh cao trí tuệ” như đảng và nhà nước CSVN mới đủ khả năng suy nghĩ và thực hiện một cách rất tinh vi như thế này. Không tặng, không nhượng, Trung cộng không cần xâm lăng, chỉ ký hợp đồng thuê một số tỉnh biên giới phía Bắc với thời gian là 50 năm là xong. Sự kiện này có lẽ đã xẩy ra từ lâu, đến nay bị bại lộ, thì đám Trung ương lại tỏ ra ngây thơ không biết gì, cho đây chỉ là những hành động đơn lẽ của các tỉnh. Do đó, đảng và nhà nước cũng đã “kêu gọi các tỉnh nên ngưng việc cho mướn đất”. Và cũng chẳng thấy có một hành động nào hay biện pháp chế tào nào với tội trạng nghiêm trọng này. Như vậy cái guồng máy CSVN là cái giống gì, luật pháp ở đâu sao không đem ra áp dụng trong trường hợp này mà chỉ biết dùng luật để bịt miệng dân. Một việc hệ trọng, liên quan đến sự tồn vong của đất nước mà đảng coi như chuyện vui chơi, chỉ khuyến cáo vài lời không nên là xong. Một điều vô lý hơn nữa, khi đại diện chính quyền cho ngoại kiều mướn đất mà bộ ngoại giao cũng không biết. Như thế, nguyên tác và hệ thống ngoại giao nằm ở đâu, hay sự liên hệ chủ và tớ thì đại khái sao cũng được. Điều này chứng tỏ đã có sự thoả thuận từ trung ương đến địa phương, nếu không thì đảng và nhà nước CSVN chỉ là một đám thổ phỉ ô hợp, thuộc loại “Quân Hồi Vô Phèng” chẳng ra cái gì cả, như thế xét ra còn tện hơn một bọn ma cô trong làng chơi.

    Cung trong sự kiện cho Trung cộng mướn đất, đại đa số nhận định, chẳng qua đây chỉ là một sự đổi mới, đột phá về tư tưởng để cống hiến đất đai và tài nguyên cho quan thầy cách tinh vi hơn, cùng lắm cách chức vài tên Tỉnh Ủy lấy lệ, nhưng hợp đồng đã ký rồi, không thể thay đổi. Như vậy đất nước sẽ ra sao?... Có lẽ ai cũng biết một khi thuê mướn đất như vậy, Trung công sẽ có toàn quyền khai thác mọi mặt, họ có quyền thiết lập hệ thống hành chánh, quân sự, tình báo, giáo dục, y tế ... Nó cũng tưạ như người Anh mướn Hồng Kông 99 năm trước đây mà thôi. Cũng trong vấn đề này, một số người lo xa, không biết sau 50 năm Trung cộng có trả lại hay không, và trả như thế nào?... Tuy nhiên, một số người khác thực tế hơn nêu ra vấn đề, không biết trong vòng 50 năm tới đây, với tham vọng bành trướng cuả Trung cộng và bản chất tay sai của CSVN, không biết đất nước có còn không, nói gì đến chuyện trả lại hay không.

    Song song với sự kiện này, một số cơ quan truyền thông Việt ngữ đưa tin, ngay ngày mồng một tết xuất hiện một số truyền đơn kêu gọi dân chủ của một vài đảng phái chinh trị tại hải ngoại, hiện tượng này cũng là một đề tài bàn tán, và cũng nhiều người cho rằng đây cũng có thể là một trái khói mù, tập trung dư luận để làm nhạt dần sự kiện bán nước cuả CSVN qua hình thức cho trung cộng thuê đất một số tỉnh biên giới phiá bắc.

    Xoay quanh trong câu chuyện đầu năm, tại một số tổ chức trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại cũng bị một số thành phần đảng phái tả khuynh lũng đoạn, tạo ra nhiều những biến động nhiêu khê, gây phân hóa hầu giảm thiểu niền tin trong đấu tranh từ nhiều giới đồng bào trong cũng như ngoài nước. Hiện tượng mới nhất gây nhiễu loạn và phân hoá là một cuộc biểu tình tại Pháp, cũng mang ý nghĩa chống CSVN, nhưng Ban Tổ Chức không cho mang cờ Vàng và giải thích “vì có thành phần du sinh tham dự nên sợ họ dị ứng với lá cờ vàng mà không tham gia”. Như vậy, thử hỏi du sinh là gì ? Và cộng đồng người Việt tại hải ngoại lại phải chối bỏ căn cước tỵ nạn của mình chỉ vì một nhóm du sinh CSVN. Trước sự kiện này, đa số lại nhớ đến chủ trương nối kết du sinh, hoà đồng, cùng canh tân đất nước của đảng Việt Tân. Để chứng minh cho điều này, đi ngược dòng thời gian khi hiện tượng Trung cộng chính thức lấy Hoàng Sa, Bs Đoàn Trọng Việt và Gs Nguyễn Ngọc Bích thuộc đảng Việt Tân đã từng lên đài phát thanh Tiếng Nước Tôi, thảo luận và đồng kêu gọi, vì hoà đổng vơi du sinh, đi biểu tình chống Trung cộng không mang cờ gì cũng được hay mang cờ đỏ, vàng gì cũng được... Và tại Úc Châu, luận điệu này cũng được tung ra vận động vận động, nhưng rất tiếc họ không thành công bởi sự sáng suốt của đồng hương và Ban Chấp Hành Cộng Đồng sở tại... Bây giờ nhân việc CSVN cho Trung cộng “thuê đất” thì những trái hoả mù lại được tung ra.

    Đầu năm, duyệt qua một số sự kiện chung như một tạp ghi để mong chia sẻ và cảnh giác cùng độc giả trong tinh thần đoàn kết đi tìm một muà xuân thực sự cho quê hương dân tộc. Do đó, trước tình hình mỗi ngày một bi đát của đất nước nói cung và cộng cuộc đấu tranh nói riêng. Mong rằng, chúng ta nên cảnh giác đi vào điểm chính trực diện với những hiện tượng hay sự kiện buôn dân, bán nước của CSVN. Đồng thời cảnh giác với những trận hỏa mù của đám việt gian, nằm vùng đang cố gắng tập trung dư luận vào nhũng điểm nhỏ nhặt mà quên đi mục tiêu lớn trong cái cảnh “Tham một bát, bỏ cả mâm” vậy.

    * Phạm Thanh Phương (Úc Châu)